Tin Tức

Kiến thức phân tích việt bắc 8 câu đầu | Banmaynuocnong

15
Kiến thức phân tích việt bắc 8 câu đầu | Banmaynuocnong

Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài Việt Bắc để thấy được đây là một bản tình ca, anh hùng ca đậm đà bản sắc dân tộc. Để rồi Việt Bắc đã thực sự trở thành một trong những bài ca không bao giờ quên, không thể nào quên.

Văn mẫu lớp 12: Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài Việt Bắc 2 Dàn ý & 14 bài văn mẫu lớp 12 hay nhất

Tính dân tộc trong 8 câu đầu bài Việt Bắc gồm 2 dàn ý chi tiết và 14 bài văn mẫu được chúng tôi tổng hợp từ bài làm hay nhất của học sinh trên cả nước. Qua đó giúp các bạn có thêm nhiều tư liệu tham khảo, củng cố vốn từ có nhiều ý tưởng mới khi viết văn để đạt được kết quả cao trong kỳ thi THPT Quốc gia sắp tới. Chúc các bạn học tốt.

Dàn ý phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu

I. Mở bài

– Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị.

– Dẫn dắt tám câu thơ cần phân tích.

II. Thân bài

1. Bốn câu đầu: Khơi gợi kỷ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội, nghĩa tình.

– Khung cảnh chia tay bịn rịn giữa kẻ ở và người về.

– Cách xưng hô “mình – ta”: thân mật gần gũi như trong ca dao.

– Điệp ngữ và kết cấu tu từ được lặp lại hai lần như khơi dậy bao kỉ niệm. Hai câu hỏi đều hướng về nỗi nhớ, một nỗi nhớ về thời gian “mười lăm năm”, một nỗi nhớ về không gian: “sông, núi, nguồn”.

=> Đó là khoảng thời gian gắn bó biết bao kỉ niệm của người dân Việt Bắc với người lính

2. Bốn câu sau: Tiếng lòng của người về xuôi mang bao nỗi nhớ thương, bịn rịn.

– Từ láy “bâng khuâng” thể hiện sự xao xuyến, “bồn chồn” thể hiện sự không yên tâm trong dạ, không nỡ rời bước.

– Hình ảnh “áo chàm” chỉ người dân Việt Bắc thân thương giản dị.

– Cử chỉ cầm tay nhau thay lời nói chứa đầy cảm xúc.

– Lời người ở lại nhắn gửi tới người ra đi: Lời nhắn gửi được thể hiện dưới hình thức những câu hỏi: nhớ về Việt bắc cội nguồn quê hương cách mạng, nhớ thiên nhiên Việt Bắc, nhớ những địa danh lịch sử, nhớ những kỉ niệm ân tình…

– Nghệ thuật:

  • Liệt kê hàng loạt các kỉ niệm.
  • Ẩn dụ, nhân hóa: rừng núi nhớ ai.
  • Điệp từ “mình”.
  • Cách ngắt nhịp 4/4 đều tha thiết nhắn nhủ người về thật truyền cảm.

=> Thiên nhiên, mảnh đất và con người Việt Bắc với biết bao tình nghĩa, ân tình, thủy chung.

III. Kết bài

Đánh giá chung về tám câu thơ đầu.

Tính dân tộc trong 8 câu đầu bài Việt Bắc ngắn gọn

Bài làm mẫu 1

“Mỗi công dân đều có một dạng vân tayMỗi nhà thơ thứ thiệt đều có một dạng vân chữKhông trộn lẫn…”

Giống như mỗi người, sẽ sở hữu riêng cho mình một loại vân tay riêng, không giống bất kì ai. Thì mỗi nhà văn, nhà thơ, cũng sẽ sở hữu một phong cách “một dạng vân chữ” riêng biệt. Vì thế, khi đọc những tác phẩm văn chương, ta không thể trộn lẫn giữa Hồ Xuân Hương với Xuân Quỳnh khi cả hai cùng nói rất hay về thơ tình yêu người phụ nữ. Và nổi lên trong phong trào dân tộc dân chủ, cùng sự phát triển của văn học nước nhà, ta nhớ tới Tố Hữu, những khổ thơ mượt mà như áng tóc trữ tình của ông, học được trong ca dao nhưng lại nổi lên một phong cách rất riêng của Tố Hữu, và ta được biết đến điều đó rõ hơn, thông qua 8 khổ thơ đầu bài thơ Việt Bắc.

Nói đến Tố Hữu là nói ngay đến cây đại thụ của làng văn. Ông mang trong mình một áng thơ ca chạy suốt chiều dài lịch sử, thơ văn viết về lịch sử là thế, nhưng trong đó lại mang đậm dấu ấn của một người con rất Huế, rất Việt Nam, lúc nào cũng tha thiết, lúc nào cũng vấn vương gợi tình.

Mình về mình có nhớ taMười năm lăm ấy thiết tha mặn nồngMình về mình có nhớ khôngNhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồnTiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Bài thơ Việt Bắc là một trong những kiệt tác văn chương rất tiêu biểu của tiếng thơ Tố Hữu. Ra đời trong bối cảnh kháng chiến chống Pháp vừa giành thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội tiếp quản. Lấy cảm hứng từ buổi chia tay mang ý nghĩa lịch sử ấy, Tố Hữu đã xúc động viết ra áng thơ này. Việt Bắc như mang nặng hồn thiêng của sông núi, vì thế, bài thơ đến gần với trái tim người đọc, nhờ tính dân tộc đậm đã, được thể hiện đậm nét trong cả hai phương diện nội dung và hình thức.

Ta biết tính dân tộc trong một bài thơ, là một khái niệm quen thuộc, thuộc phạm trù tư tưởng- thẩm mĩ, và là mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa văn học và dân tộc. Tính dân tộc trong một bài thơ là cách thức thể hiện và nội dung có tính bền vững cho các sáng tác của dân tộc ta, được hình thành từ quá trình phát triển của dân tộc từ xưa đến nay. Và tính dân tộc, phải được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và hình thức.

Trong ca dao ta vẫn thường nghe có câu:

Bây giờ mận mới hỏi đàoVườn hồng đã có ai vào hay chưaMận hỏi thì đào xin thưaVườn hồng đã có nhưng chưa ai vào

Vậy đấy, tính dân tộc là đây chứ đâu. Vì sao ca dao dân ca từ ngàn đời nay vẫn mới và vẫn luôn khiến ta cảm thấy mến thương như vậy. Đơn giản, bởi ca dao luôn mang đậm chất trữ tình, ngọt ngào, chân chất và gần gũi, được thể hiện qua thể thơ lục bát uyển chuyển. Bắt nhịp và nối tiếp những giá trị cao quý đó của ca dao dân ca, Tố Hữu đã vận dụng nhuần nhuyễn để làm ra Việt Bắc.

Mình về mình có nhớ taMười năm lăm ấy thiết tha mặn nồngMình về mình có nhớ khôngNhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn

Tính dân tộc trước hết thể hiện ở thể thơ lục bát quen thuộc, nhờ nó, ý thơ vốn uyển chuyển và đầy chất trữ tình của Tố Hữu càng được bộc lộ một cách rõ nét. Không những thế, Tố Hữu đã vận dụng khéo léo lối đối đáp vốn là hình thức quen thuộc trong ca dao, ngôn ngữ mượt mà, uyển chuyển, đặc tả tình cảm giữa mình – ta ngọt ngào sâu lắng, mà ta vốn thường hay gặp trong những câu ca dao viết về tình yêu lứa đôi.

Đoạn thơ đầu đặc tả nỗi nhớ của người ở lại dành cho người da đi, ngôn từ bình dị nhưng tha thiết và quyện chặt trong lòng kẻ đi người ở. Tình cảm người gắn bó keo sơn tựa như tình cảm đôi lứa, qua đó càng cho ta thấy sự đoàn kết của nhân dân ta trong thời kì kháng chiến. Hóa ra, dù có khó khăn cách trở về không gian, thời gian, trái tim của những người con đất Việt vẫn mãi gắn bó và dành cho nhau. Chỉ cần anh cần, tôi luôn có mặt. Những hình ảnh mang đậm tính dân tộc cũng được tả rõ nét, đó là “nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn” những cây, những núi, sông, nguồn, là những hình ảnh quen thuộc, vốn đã đi vào tiềm thức của người dân ta muôn đời.

Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Lời đầu tiên là lời người ở lại dành cho người ra đi, vì nhớ thương, vì luôn canh cánh trong lòng, nên đoạn thơ này tựa như một lời đồng vọng thân thương mà người ra đi đáp lại người ở. Từ “ai” là một đại từ phiếm chỉ, như ám chỉ hình ảnh tiếng hát da diết và mộc mạc của người dân vùng núi Việt Bắc, người cất bước ra đi nhưng vọng trong hoài niệm, trong nhung nhớ vẫn luôn nghĩ về ân tình Việt Bắc, muối mặn gừng cay, phai chăng “Khi ta ở thì là nơi đất ở/ khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” là vậy? Những hình ảnh mang đậm tính dân tộc như “áo chàm” “cầm tay” mang một vẻ đẹp đơn sơ, giản dị nhưng ấm cúng lắm. Những cái bắt tay mặn mà tình cảm, những tấm áo chàm là hoán dụ cho nhân dân Việt Bắc, cầm tay thôi là đã nói lên tất cả, ngôn ngữ dần như cũng ngưng đọng lại, bồi hồi vì cảm xúc mà không nói thành lời.

Qua đó, càng nổi bật rõ nên nét dân tộc truyền lại trong thơ Tố Hữu, đặc tả vẻ đẹp thủy chung, nghĩa tình, son sắt của người dân quê hương. Việt Bắc là sự kế thừa trọn vẹn những tinh hoa của văn chương muôn đời.

Bài làm mẫu 2

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, tháng 10 năm 1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Nhân sự kiện có tính chất lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc, khắc họa lại cuộc chia tay lịch sử với những tình cảm thủy chung son sắt. Tình cảm ấy được thể hiện qua những câu thơ sau:

Mình về mình có nhớ ta?….Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Đoạn thơ tràn đầy một nỗi nhớ tưởng như không thể kìm nén được, cứ trào ra theo ngòi bút và tuôn chảy thành những dòng thơ. Có đến bốn chữ “nhớ” trong một đoạn thơ tám câu chắc hẳn nỗi nhớ ấy phải thật da diết và sâu nặng. Đây là nỗi nhớ quê hương cách mạng của người đã từng gắn bó sâu sắc với vùng đất thiêng đầy kỷ niệm ấy, là nỗi nhớ của nghĩa tình, của ân tình thủy chung.

Khúc hát dạo đầu đã nhắc đến nỗi nhớ của đạo lí Việt Nam, cảnh tiễn đưa bâng khuâng trong nỗi nhớ, người ở lại hỏi người ra đi cũng chỉ một nỗi nhớ và người ra đi trả lời bằng chính nỗi nhớ ấy của mình. Tố Hữu đã diễn tả nỗi nhớ quê hương cách mạng bằng tiếng nói ngọt ngào, tha thiết của khúc hát đối đáp giao duyên nam nữ trong dân ca. Khúc hát ấy thấm nhuần đạo lí ân tình thủy chung:

Mình về mình có nhớ ta?…Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn.

Nghe như ca dao, lại phảng phất âm hưởng thơ Kiều, hai câu đầu gợi ta nhớ đến một câu thơ trong Truyện Kiều:

Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình

Việt Bắc đã hỏi người cán bộ về xuôi có còn nhớ mình không? Có còn nhớ những tình cảm thiết tha, mặn nồng trong suốt khoảng thời gian mười lăm năm gắn bó. Nhìn cây còn có nhớ núi, nhìn sông còn có nhớ đến nguồn? Bốn câu thơ nhưng thực chất là hai câu hỏi tu từ. Lời của người ở nhưng thực chất là lời nói của người đi để nói lên đạo lý Việt Nam truyền thống vốn là bản chất tốt đẹp của dân tộc ta. Không chỉ nói lên mà chính là nhắc nhở mọi người, nhắc nhở chính mình bởi vì cái đạo lí ấy thiêng liêng lắm, quý giá lắm, phải giữ gìn và phát huy.

Sâu nặng biết bao trong “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, ân tình biết bao khi “nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Bốn câu thơ mà có đến bốn chữ “mình”, bốn chữ “nhớ” hòa quyện quấn quýt cùng chữ “ta”, khiến cái đạo lí ân tình Việt Nam đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt bài thơ Việt Bắc, trở thành chủ đề lớn của tác phẩm.

Sau khúc hát mở đầu là cảnh tiễn đưa bâng khuâng trong nỗi nhớ của người ra đi và cả người ở lại:

Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Có âm thanh da diết và màu sắc đậm đà thủy chung, có bước chân bồn chồn và những cái nắm tay đầy lưu luyến. Mỗi bước chân của người đi mang theo nỗi niềm luyến lưu cho người ở lại. “Tiếng ai” không phải là câu hỏi, cũng chẳng phải là đại từ phiếm chỉ mà đó chính là cách nói thể hiện nỗi niềm “bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”. “Bâng khuâng” vì “đi không nỡ”, nhưng “bồn chồn” vì ở cũng chẳng đành bởi lẽ Việt Bắc đã trở thành ký ức, thành tình yêu, thành tâm hồn:

Khi ta ở chỉ là nơi đất ởKhi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn

Từ láy bâng khuâng, bồn chồn được Tố Hữu sử dụng rất tinh tế ở câu thơ này. Nó thể hiện được nỗi niềm, được tâm trạng và cả những chuyển động trong cảm xúc, để rồi hình ảnh tiếp theo xuất hiện là chiếc áo chàm qua thủ pháp hoán dụ gợi tả con người Việt Bắc:

Áo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Màu áo chàm là một hình ảnh đầy ý nghĩa, đó là màu áo của Việt Bắc đậm đà, son sắt như chính lòng thủy chung của con người nơi đây. Màu áo ấy nhắc nhở người ra đi nhiều ký ức khó phai nhòa.

Câu thơ “cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” mang một giá trị biểu cảm rất lớn. “Cầm tay nhau” nhưng chẳng “biết nói gì” vì có quá nhiều nỗi niềm cần bày tỏ, vì trong lòng họ tràn ngập nỗi nhớ thương nên không biết nói điều gì trước, điều gì sau, điều gì nên giãi bày, điều gì nên giấu kín trong tim. Cho nên chẳng “biết nói gì” chính là nói lên rất nhiều tấm lòng thương nhớ. Câu thơ ngắt nhịp 3/3/2 như sự ngập ngừng lưu luyến, làm ta liên tưởng đến buổi tiễn đưa của người chinh phụ và chinh phụ trong “Chinh phụ ngâm”:

Bước đi một bước, giây giây lại dừng

Trong màn đối đáp giao duyên của cuộc chia tay lịch sử ấy, Tố Hữu đã để cho người ở lại lên tiếng trước. Điều này không chỉ hợp lý, tế nhị mà còn cần thiết cho sự phát triển mạch thơ trong cả bài thơ.

Bằng việc sử dụng đại từ “mình – ta” cùng thể thơ lục bát, Tố Hữu đã tái hiện cuộc chia tay lịch sử của Việt Bắc và người chiến sĩ cách mạng với biết bao ân tình, chung thủy. Con người dễ cộng khổ nhưng khó đồng cam, Việt Bắc ra đời chính là lời nhắc nhở tình nghĩa gắn bó cùng đạo lý tri ân muôn đời của dân tộc.

Bài làm mẫu 3

Văn mẫu lớp 12: Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài Việt Bắc 2 Dàn ý & 14 bài văn mẫu lớp 12 hay nhất

Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ ông chất phác, mộc mạc giàu chất trữ tình. Trong sự nghiệp sáng tác của mình ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị tiêu biểu là bài thơ “Việt Bắc”. Nổi bật lên trong bài thơ là tám câu thơ đầu với lời của kẻ ở, người đi đầy lưu luyến xúc động

Mình về mình có nhớ ta?Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.Mình về mình có nhớ không?Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Việt Bắc là tác phẩm đặc sắc của Tố Hữu được sáng tác vào năm 1954 sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, chính phủ và chính quyền trung ương cách mạng chuyển từ căn cứ Việt Bắc về Hà Nội. Nhân sự kiện ấy Tố Hữu sáng tác bài Việt Bắc.

Nỗi nhớ da diết của những người yêu nhau như thế nào thì nỗi nhớ của con người Việt Bắc với những người cách mạng cũng như vậy:

Mình về mình có nhớ ta?Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.Mình về mình có nhớ không?Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Mở đầu đoạn trích là cách xưng hô “mình” – “ta” đầy thân thương gần gũi, “mình”-là người cách mạng còn “ta” chính là người Việt Bắc. Người dân Việt Bắc hỏi rằng: “Mình về mình có nhớ ta” đọc câu thơ ta thấy ở trong đó có đầy tình cảm lưu luyến, nuối tiếc như một cặp tình nhân khi phải xa nhau, cảm giác đau khổ, không nỡ, nhưng tình yêu thì được hình thành trong quãng thời gian rất ngắn còn tình người giữa Việt Bắc và cách mạng lại là quãng thời gian “mười lăm năm”. “Mười lăm năm” – đó là một quãng thời gian không hề ngắn , đặc biệt trong mười lăm năm ấy tình cảm nào có nhạt phai mà còn “thiết tha mặn nồng”.

Nếu như hai câu đầu là tình cảm giữa người với người thì đến với hai câu sau chính là tình cảm giữa con người với thiên nhiên:

Mình về mình có nhớ không?Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn.

Người dân Việt Bắc không biết rằng khi về miền xuôi những người cán bộ cách mạng có còn nhớ Việt Bắc nữa hay không. “Mình về mình có nhớ không” đọc câu thơ lên với giọng thơ nhẹ nhàng ta thấy rưng rưng nước mắt. Núi rừng Việt Bắc, sông núi Việt Bắc đẹp lắm, hùng vĩ lắm nhưng ở miền xuôi lại nhộn nhịp đông đúc. Người dân Việt Bắc sợ, họ sợ những người cách mạng quên mất Việt Bắc, quên mất những ngày tháng hái quả rừng, ăn rau rừng trên núi, quên mất dòng sông vẫn hàng ngày bắt cá. Trong suy nghĩ của họ, họ rất sợ. Từ “nhớ” trong câu thơ được lặp lại như muốn tô đậm thêm nỗi nhớ nhung da diết, không nỡ rời xa, không nỡ chia ly. Chỉ với bốn dòng thơ đầu Tố Hữu đã tái hiện lại khung cảnh của buổi chia ly thật xúc động, nghẹn ngào và đầy nước mắt.

Trong khung cảnh núi rừng hùng vĩ, cái se lạnh của Việt Bắc những người cách mạng chia tay Việt Bắc

Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Người cách mạng rời xa Việt Bắc nhưng vẫn nhớ về tiếng nói tha thiết của người dân Việt Bắc lúc chia tay: “Tiếng ai tha thiết bên cồn”. Người cách mạng về xuôi sẽ còn nhớ lắm giọng nói của người dân Việt Bắc. Vì nhớ nên “Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi” câu thơ khi đọc lên ta thấy cảm xúc như dâng trào. “bâng khuâng” là từ láy chỉ trạng thái của con người mà cụ thể ở đây là người cách mạng về xuôi, họ ra đi nhưng trong lòng cảm thấy lưu luyến không nỡ rời xa. Cảm xúc nghẹn ngào không nói nên lời đến cả bước đi cũng như nặng hơn. Người không muốn đi mà chân cũng không muốn bước, bước chân trở nên “bồn chồn” như cũng muốn quay trở lại Việt Bắc, quay lại quê hương cái nôi của cách mạng, nơi có những con người tình nghĩa, thủy chung luôn chờ đón họ. Họ không nỡ rời xa nhau nhưng trong giây phút nghẹn ngào cuối cùng được ở gần nhau thì họ lại không thể thốt nên lời:

Áo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Màu áo “chàm” – màu áo đặc trưng của cách mạng cũng góp chung vào nỗi nhớ của kẻ ở người đi, họ nhớ nhau nhớ cả màu áo của nhau. Họ cầm tay nhau tình cảm thắm thiết mà không thể thốt nên lời. Tâm trạng trong câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” cũng khiến cho cảm xúc của người đọc và theo cảm xúc của con người trong thơ: bồn chồn, không yên, day dứt, khó diễn tả. Họ chia tay chỉ muốn òa khóc, xúc động không nói nên lời. họ không còn gì để nói với nhau hay họ có quá nhiều cảm xúc muốn nói mà không thể nói hết trong một khoảnh khắc ngắn ngủi này. Chỉ vẻn vẹn có bốn câu thơ với hai mươi tám chữ Tố Hữu đã cho người đọc hòa mình vào cuộc chia tay, cũng là lời của người ra đi nói với người ở lại đã làm cho người đọc xúc động nghẹn ngào

Đoạn trích trên trong bài thơ “Việt Bắc” không chỉ thành công ở nội dung mà còn thành công ở nghệ thuật với thể thơ lục bát, lối đối đáp, cách xưng hô mình ta, ngôn ngữ giàu sức gợi. đoạn trích tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc.

Tóm lại, tám câu thơ trên trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu đã để lại trong lòng người đọc những cảm xúc khó phai mờ về tình cảm giữa người Việt Bắc và cách mạng. Bài thơ nói chung và đoạn thơ nói riêng sẽ luôn sống mãi trong lòng chúng ta, trong trái tim người đọc Việt Nam.

Bài làm mẫu 4

Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, tiêu biểu cho thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mạng. Thơ ông đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện. Bài thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. “Việt Bắc” là một trong những bài thơ được xếp vào hạng những bài thơ “tống biệt” của Tố Hữu. Mặc dù là đề tài cũ, nhưng bài thơ vẫn mới mẻ bởi “Việt Bắc” ra đời trong cuộc chia tay đặc biệt giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ kháng chiến vào tháng 10 năm 1954. Ra đời trong hoàn cảnh ấy, bài thơ không mang cảnh trạng của một cuộc chia ly với nỗi buồn đầy nước mắt, mà là nỗi niềm chia ly trong tình cảm giữa cán bộ và nhân dân sâu đậm ân tình. Đoạn thơ mở đầu của bài thơ là sự thể hiện tinh tế và sâu sắc những rung động trong trái tim của người đi và người ở trong giờ phút phân ly:

Mình về mình có nhớ ta?Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.Mình về mình có nhớ không?Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Bốn câu thơ đầu là lời của người ở lại nói với người ra đi:

Mình về mình có nhớ ta?Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.Mình về mình có nhớ không?Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Tác giả mở đầu bằng một câu hỏi mang âm hưởng ca dao, tình yêu: “Mình về mình có nhớ ta”. “Mình về” là hoàn cảnh để người ở lại bộc lộ nỗi niềm. “Về” gợi đến sự chia ly, đó là sự chia ly của người ra đi và người ở lại. Về mặt kết cấu câu thơ thì “mình” đứng ở đầu câu, còn “ta” đứng ở cuối câu thơ. Nó gợi lên cái khoảng cách giữa “ta” và “mình”. Nỗi niềm gợi lên qua câu hỏi ấy của người ở lại là nỗi nhớ, tình cảm của người ở lại hướng tới người ra đi. Đứng giữa câu thơ là một từ “nhớ”, nó làm cho “mình” và “ta” dường như được xích lại gần nhau hơn. Cơ sở tạo nên nỗi nhớ ấy là: “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”. Câu thơ phảng phất âm hưởng của thơ Kiều, nhưng từ âm hưởng đó lại vang lên nỗi niềm tình cảm của những con người trong một thời kháng chiến. “Mười lăm năm ấy” gợi đến một quãng thời gian khó khăn, một thời đau thương, mất mát. Tuy vậy, dường như tất cả mất mát đau thương ấy chìm đi, đọng lại trong câu thơ chỉ còn là tình cảm “thiết tha mặn nồng”. Đó chính là sự gắn bó thân thiết, tình cảm chia bùi sẻ ngọt trong “mười lăm năm ấy” giữa “ta” và “mình”. Bởi vậy, hỏi nhưng cũng chính là để bộc lộ tình cảm và hỏi chính là thể hiện mong muốn người ra đi cũng có tình cảm như chính mình.

Đến câu thơ thứ ba cũng là một câu hỏi. Câu hỏi: “Mình về mình có nhớ không” cũng có sự lặp lại gần giống câu thơ đầu. Tuy vậy, đối tượng hỏi không chỉ còn bó hẹp trong mối quan hệ giữa “ta – mình” và nỗi nhớ dường như không còn chỉ hướng tới “ta”, mà nỗi nhớ đó đã hướng vào đối tượng rộng lớn hơn rất nhiều, đó chính là không gian “núi rừng” và “sông nguồn”. Câu hỏi gợi về không gian có “núi”, có “nguồn” ở núi rừng Việt Bắc. Đây chính là không gian quen thuộc gắn với người ở lại và cũng gắn bó với cả người ra đi. Không gian đó với người ra đi và người ở lại không còn là không gian vô hồn, vô cảm mà là không gian chứa đầy kỉ niệm, nó góp phần tạo nên tình cảm cho người ra đi. Ở trong câu thơ xuất hiện nhiều lần hai động từ chỉ hành động “nhìn” và “nhớ”. Một hành động tác động vào thị giác, một hành động tác động vào tâm tưởng; một hành động hướng tới hiện tại, một hành động hướng về quá khứ. Sự đan xen giữa các hành động đó mà người ở lại đưa ra là để muốn nhắc nhở người ra đi sống ở hiện tại đừng quên về quá khứ, sống ở miền xuôi đừng quên miền ngược, đừng quên về những kỉ niệm của một thời đã qua. Đó chính là mong muốn của người ở lại nhắn nhủ tới người ra đi. Trước khi mong muốn người ra đi để nhớ thì người ở lại đã thể hiện nỗi nhớ của mình. Nỗi nhớ đó biểu đạt trực tiếp qua động từ “nhớ” xuất hiện nhiều lần ở khổ thơ, càng về cuối thì từ “nhớ” xuất hiện càng nhiều đã thể hiện cường độ nhớ ngày một tăng và nó đã tạo nên âm hưởng chủ đạo cho bài thơ. Đó là âm hưởng nhớ thương, ân tình tha thiết.

Bốn câu thơ đầu chỉ với hai câu hỏi, nhưng chủ yếu là để giãi bày tình cảm và để mong muốn người ra đi cũng có tình cảm như chính mình, bởi giữa hai đối tượng đó có sự gắn bó khăng khít trong một thời kháng chiến và một vùng kháng chiến. Để rồi từ đó, người ra đi đáp lại người ở lại bằng bốn câu thơ:

Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Người ở lại đặt ra câu hỏi nhưng người ra đi không trực tiếp trả lời câu hỏi đó mà thay vào đó người ra đi thể hiện tình cảm lưu luyến, bịn rịn trong buổi chia tay. Ấn tượng ban đầu đã tác động đến người ra đi: “Tiếng ai tha thiết bên cồn”. “Ai” là đại từ không xác định. “Ai” có thể là nhân vật đang xuất hiện trước mắt người ra đi, quen thuộc với người ra đi – một con người cụ thể xuất hiện “bên cồn” trong buổi chia ly. “Ai” có thể là bất cứ người dân Việt Bắc đã cùng sống, cùng làm việc, cùng sinh hoạt với người ra đi. Dù hiểu theo cách nào thì ấn tượng tác động đến người ra đi là âm thanh tiếng nói tha thiết – đó chính là âm thanh rất đỗi ngọt ngào, thiết tha, sâu lắng. Và âm thanh đó dường như gọi về biết bao kỉ niệm, biết bao buổi trò chuyện tâm tình và âm thanh đó gọi về mối tình keo sơn gắn bó thân thiết giữa người ở lại với người ra đi. Chính âm thanh đó đã khiến cho người ra đi “Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”. Câu thơ ngắt nhịp 4/4 với hai vế tiểu đối trong tương quan đối lập giữa bên trong và bên ngoài. “Trong dạ” thì “bâng khuâng” còn hành động bên ngoài biểu hiện sự “bồn chồn” thấp thỏm của người ra đi, nhưng lại có sự tương đồng trong cảm xúc và hành động. Chính vì cảm xúc “bâng khuâng” thì mới có hành động “bồn chồn” đó được.

Trong cảm nhận của người ra đi, một hình ảnh bình dị, quen thuộc thường xuất hiện trong cuộc sống đời thường đó là hình ảnh “áo chàm”. Hơn thế nữa chiếc “áo chàm” gợi đến sắc màu bền bỉ khó phai. Tác giả sử dụng hình ảnh hoán dụ “áo chàm” để chỉ người dân Việt Bắc và bởi vậy nói “áo chàm đưa buổi phân li” là nói về cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa người Việt Bắc với người cách mạng. Mượn hình ảnh “áo chàm” dường như tác giả muốn nói đến tình cảm thủy chung sắt son khó phai mờ của người dân Việt Bắc với người chiến sĩ cách mạng. Và ấn tượng đậm nét nhất với người ra đi chính là hành động “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”. Trước tiên là hành động “cầm tay nhau” là hành động quen thuộc và rất đẹp của những ai khi chia li, nó thể hiện tình cảm gắn bó thân thiết và đồng thời thể hiện sự lưu luyến giữa kẻ ở người đi. Họ cầm tay nhau trong tâm trạng nghẹn ngào, vì thế không nói lên lời. Dấu ba chấm xuất hiện cuối dòng thơ như nốt nặng không lời, nhưng chính nó lại quý giá hơn rất nhiều những lời nói thường ngày bởi cái cầm tay đã nói lên tất cả những lưu luyến, bịn rịn. Câu thơ kết lại đoạn thơ có nhịp thơ thay đổi khác thường. Sự thay đổi của nhịp thơ không chỉ tạo nên sự ngập ngừng cho giọng điệu của câu thơ mà còn tạo nên cái ngập ngừng của tình cảm. Và đồng thời sự khác lạ trong nhịp thơ ấy đã diễn tả sự khác lạ trong diễn biến tình cảm của kẻ ở người đi.

Bài làm mẫu 5

Văn mẫu lớp 12: Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài Việt Bắc 2 Dàn ý & 14 bài văn mẫu lớp 12 hay nhất

Trong nền văn học hiện đại Việt Nam, Tố Hữu được biết đến với những tác phẩm mang đậm tính trữ tình – chính trị. Bàn về phong cách thơ độc đáo của ông, có ý kiến cho rằng: “Với giọng thơ tâm tình ngọt ngào, tha thiết và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc thì dù viết về vấn đề gì, thơ Tố Hữu vẫn luôn dễ đi vào lòng người”. Đặc trưng này đã được thể hiện rõ qua bài thơ Việt Bắc nói chung và tám câu thơ đầu tiên của thi phẩm này nói riêng.

Giọng thơ tâm tình ngọt ngào, ngôn ngữ giản dị mà tha thiết trong thơ Tố Hữu là giọng điệu của sự ngọt ngào, mang tính tâm tình, thủ thỉ sâu lắng, đằm thắm. Trong bài thơ Việt Bắc, để thể hiện nội dung về tình cảm cách mạng, tác giả Tố Hữu đã sử dụng giọng thơ tâm tình để bộc lộ những xúc cảm nặng nghĩa tình. Giọng điệu đó quyện hòa cùng nghệ thuật giàu tính dân tộc qua thể thơ lục bát, kết cấu đối đáp “mình – ta” thân thuộc trong các câu ca dao và khúc hát dân ca, hệ thống ngôn ngữ bình dị cùng những hình ảnh thơ quen thuộc nhưng vẫn giàu sức gợi. Dù viết về đề tài chính trị gắn với sự kiện lịch sử tháng 10 năm 1954 , sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, các cơ quan trung ương của Đảng rời chiến khu Việt Bắc để trở về hoạt động tại thủ đô Hà Nội nhưng bài thơ Việt Bắc nói chung và tám câu thơ đầu tiên vẫn hiện lên chất chứa cảm xúc của sự ngọt ngào, tha thiết.

Trong tám câu thơ đầu tiên, tác giả đã tái hiện không khí bâng khuâng, lưu luyến trong những phút giây đầu tiên của buổi chia ly giữa kẻ ở – người đi. Khúc dạo đầu được khơi gợi từ lời của những người ở lại:

Mình về mình có nhớ ta?Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.Mình về mình có nhớ không?Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Trong lời ca của người dân Việt Bắc hướng tới những người chiến sĩ, cán bộ cách mạng, chúng ta có thể thấy được cảm xúc trữ tình sâu lắng qua điệp cấu trúc câu: “Mình về mình có nhớ ta?”, “Mình về mình có nhớ không?”. Sự láy đi láy lại của câu hỏi tu từ đã xoáy sâu vào nỗi nhớ và sự day dứt khôn nguôi. Quãng đường đồng hành đầy nghĩa tình và “thiết tha mặn nồng” giữa nhân dân Việt Bắc và người chiến sĩ cách mạng đã được diễn tả qua khoảng thời gian “Mười lăm năm ấy”. Đó là những tháng ngày đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, gợi lên sự bao bọc của nhân dân: “Thương nhau chia củ sắn lùi/ Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”. Cuộc kháng chiến của dân tộc ta vì thế luôn ngời sáng sức mạnh của tinh thần đoàn kết và mang tính toàn dân. Biết bao ân tình, gắn bó một lần nữa được gợi nhắc qua những hình ảnh “cây”, “núi”, “sông”, “nguồn” – không gian quen thuộc nơi núi rừng ẩn dụ cho lối sống ân nghĩa thủy chung. Như vậy, qua bốn câu thơ đầu, chúng ta có thể thấy được giọng điệu tâm tình, thủ thỉ tràn đầy cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến của đồng bào dân tộc.

Cuộc đối thoại trữ tình tiếp tục được tiếp nối qua lời đáp của người ra đi – những cán bộ chiến sĩ cách mạng:

Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Bốn câu thơ đã thể hiện rõ sự lưu luyến bịn rịn, dù chưa chia xa những viễn cảnh nhớ nhung đã hiện lên trước mắt. Đại từ “ai” ngân vang cùng sự “tha thiết” đã nhấn mạnh vào tình cảm, cảm xúc đặc biệt của người ra đi và sự thấu hiểu đối với cảm xúc của người ở lại. Điều này khiến cho câu thơ giống như một câu trả lời gián tiếp khẳng định người ra đi sẽ mãi mãi không quên được “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” và luôn một lòng hướng về và nhớ đến “cây”, “núi”, “sông”, “nguồn”. Trạng thái này được xoáy sâu hơn nữa qua những tính từ miêu tả cảm xúc như “bâng khuâng”, “bồn chồn”. Hình ảnh người ở lại đã được khắc họa trong tâm tưởng của những chiến sĩ cách mạng qua hình ảnh hoán dụ “Áo chàm” – màu áo đặc trưng của đồng bào Việt Bắc. Cuộc chia ly cứ thế diễn ra trong sự bâng khuâng xúc động, và tất cả mọi cảm xúc dường như nén lại: “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”.

Chỉ với tám câu thơ đầu tiên, chúng ta có thể thấy được tài năng của nhà thơ Tố Hữu trong việc sử dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo và linh hoạt thể thơ lục bát – thể thơ dân tộc với những đặc trưng riêng trong cách gieo vần và nhịp điệu. Đồng thời, kết cấu bài thơ được kiến tạo theo lối đối đáp giao duyên qua cặp đại từ “mình – ta” khiến lời thơ chất chứa yêu thương như những lời tâm tình của đôi lứa yêu nhau. Câu chuyện cách mạng, kháng chiến vốn thuộc lĩnh vực chính trị khô khan được tái hiện đầy tâm tình và sâu lắng như một câu chuyện tình yêu ngọt ngào, làm nổi bật tình cảm ân tình thủy chung, cao đẹp của nghĩa tình cách mạng.

Như vậy, qua tám câu thơ đầu tiên, chúng ta có thể khẳng định: “Với giọng thơ tâm tình ngọt ngào, tha thiết và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc thì dù viết về vấn đề gì, thơ Tố Hữu vẫn luôn dễ đi vào lòng người”. Câu chuyện cách mạng, kháng chiến mang tính chính trị, gắn với sự kiện lịch sử cụ thể vì thế khi đi vào trang thơ “Việt Bắc” vẫn chất chứa cảm xúc và da diết, bồi hồi. Điều này đã thể hiện rõ đặc trưng chính trị – trữ tình trong phong cách thơ Tố Hữu. Đồng thời tạo nên nét đặc sắc và sức hấp dẫn của bài thơ.

Bài làm mẫu 6

Bạch Cư Dị khi nói về nói thơ, cho rằng: “Thơ, ấy là gốc của tình, lời là ngọn, âm thanh là hoa, nghĩa là quả”, đó là một sự toàn diện tạo nên sức sống của thơ giữa dòng thời gian. Tiếng thơ Tố Hữu cũng vậy. Nhà thơ dụng công dâng hiến áng thơ “Việt Bắc” để gửi gắm tư tưởng tình cảm sâu sắc về nghĩa tình trong thời chiến còn làm rung động lòng người. Tám câu thơ đầu: “Ta về mình có nhớ ta… Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” là kết tinh tư tưởng chủ đề đó.

Tám câu thơ đầu hay dòng tâm trạng bâng khuâng, bịn rịn khi giờ chia ly đã điểm, đậm tô ân tình cách mạng của người đồng bào miền núi với cán bộ, chiến sĩ. Thể thơ lục bát khiến câu thơ mềm mại, điệu thơ trầm bổng, kết hợp với vần phong phú, nhịp đều đặn gợi trạng thái muôn vàn trong tâm hồn người ở, kẻ đi. Kết cấu đối đáp, cách xưng hô “mình, ta” quen thuộc xuất hiện trong ca dao giao duyên buổi tự tình, hò hẹn của chàng – nàng, mận – đào, mở ra bầu không khí tâm tình, giọng tình thương mến, ngọt ngào. Đoạn thơ nói tình cảm chính trị mà không khô khan.

Với người ở lại, nhạy cảm với sự đổi thay nên lên tiếng trước:

Mình về mình có nhớ ta?Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.Mình về mình có nhớ không?Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Câu hỏi tu từ láy đi, láy lại theo hình thức tăng tiến “có nhớ ta, có nhớ không” gợi những cung bậc cảm xúc từ ướm hỏi xa xôi đến nỗi khắc khoải lắng nghe lời đồng vọng. Qua đó giúp ta cảm tấm chân tình của người ở lại, tình đồng bào với người cất bước. Thời gian lịch sử “mười lăm năm”, cũng là thời gian tình cảm mặn nồng ân nghĩa. Không gian “cây, núi, sông, nguồn” gợi Việt Bắc đại ngàn, núi thăm thẳm. Điệp từ “nhớ” diễn tả nỗi lòng lớp lớp, khôn nguôi. Cách diễn đạt mang lỗi nghĩ dân gian như lời nhắn nhủ của cha ông về lối sống ẩm hà tư nguyên, nhắc nhớ sự thủy chung.

Lời người đi xuôi đáp lại tiếng lòng kẻ ở lại:

Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Cặp câu lục bát sử dụng những láy từ “bồn chồn, bâng khuâng” biểu hiện mọi nỗi niềm trong lòng người ly biệt. Tâm trạng được hữu hình hóa, vô hình thành hữu hình “bồn chồn bước đi” gợi bước đi chầm chậm chẳng nỡ rời buông như bước chân kẻ chinh phu, tráng sĩ ngày nào trong “Chinh phụ ngâm”: “Bước đi một bước, giây giây lại dừng”

Nhưng đó là tình phu – phụ, còn “Việt Bắc” nói tới tình đồng chí, nghĩa đồng bào. Hình ảnh áo chàm trong buổi phân ly đã từng đi về từng đi về trong ca dao xưa, chiếc áo để người đắp cho bớt hiu quạnh, áo bào của nàng Kiều trong buổi chia ly Thúc Sinh. Nhưng Tố Hữu mượn sắc áo chàm bình dị, bền, khó phai, khó nhạt của đồng bào miền ngược nói sắc lòng người ở lại mãi vẹn nguyên. Tâm tư tình cảm người ở được cảm bởi người đi, dường như “ta, mình” hiểu nhau cả những điều không nói ra. Bởi vậy, hành động “Cầm tay nhau biết nói gì” như khoảng lặng của âm nhạc, khoảng trống của nhiếp ảnh, khoảng vô ngôn dư tình trong văn học. Thời gian như ngừng lại để kẻ ở và người đi đối thoại đàm tâm, sự thấu hiểu của tình tri âm, tri kỷ giữa người đồng bào và cán bộ cách mạng mang ân tình cách mạng sâu đậm.

Tám câu thơ đầu trong “Việt Bắc” vừa tiếp thu giá trị dân gian phong phú vừa được nhà thơ Tố Hữu sáng tạo ý mới, hình ảnh mới, diễn đạt tình cảm, sự kiện thời đại phản ánh quy luật kế thừa, cách tân nghệ thuật.

Bài làm mẫu 7

Nhớ về giai đoạn 1945 – 1975, bạn đọc đều khắc khoải những giây phút chiến đấu hào hùng, những gian khổ khắc nghiệt của bom đạn chiến tranh. Và chính hoàn cảnh đó đã sản sinh ra Những ngòi bút Cách Mạng tiêu biểu cho một thời kì văn học dân tộc. Nếu Phạm Tiến Duật hay Quang Dũng viết về gian khổ bằng giọng thơ tươi trẻ, yêu đời, thì Tố Hữu lại đi vào lòng bạn đọc nhờ cái trữ tình, lắng sâu của lời thơ. Tám câu thơ mở đầu “Viết Bắc” là minh chứng rõ nét cho phong cách thơ Tố Hữu.

Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ra và lớn lên nơi xứ Huế mộng mơ. Phải chăng chính đất và người nơi đây đã đọng lại trong tâm hồn thi sĩ chất nhẹ nhàng, duyên dáng, rất thơ, rất Huế. Ở thi nhân có sự hòa quyện thống nhất giữa cuộc đời Cách mạng và cuộc đời thơ. Ông chọn con đường Cách mạng từ thời niên thiếu, viết thơ cũng là viết cùng chặng đường lịch sử của cả dân tộc. Bởi vậy, Tố Hữu quan niệm: “Muốn có thơ hay, trước hết, phải tạo lấy tình. Nhà thơ chân chính phải không ngừng phấn đấu, tu dưỡng về lập trường tư tưởng; xác định thật rõ ràng tầm nhìn, cách nhìn. Tự nguyện gắn bó chân thành là yêu cầu cao nhất đối với người nghệ sĩ trong quan hệ với đất nước, với nhân dân. Ngoài ra, các nhà thơ Cách mạng còn phải kiên quyết đấu tranh, không khoan nhượng trước những biểu hiện lệch lạc, với cái xấu cái ác. Tóm lại, viết thơ phải xứng đáng là người chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn hóa tư tưởng. “Và Việt Bắc chính là áng thơ được kết tinh từ tư tưởng chính trị vững vàng cùng trái tim ấm nóng luôn hướng về quê hương đất nước của nhà thơ. Bài thơ ra đời trong không khí hân hoan của quân và dân sau chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, trong giây phút những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi. Việt Bắc là khúc ca hùng tráng và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến, thể hiện sự gắn bó, ân tình sâu nặng với nhân dân, đất nước trong niềm tự hào dân tộc. Tám câu thơ mở đầu đã dội nên bao nỗi niềm thân thương, lưu luyến trong tâm tình người chiến sĩ khi rời xa đồng bào vùng cao để trở về.

Cuộc chia tay đầy bịn rịn, tiếc nuối hiện ra qua giọng thơ ngọt ngào, trữ tình của Tố hữu.

Mình về mình có nhớ ta?Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.Mình về mình có nhớ không?Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Đoạn thơ nương theo điệu hồn truyền thống từ thể thơ đến cách xưng hô, gợi một nỗi niềm bình dụi, thân thuộc. Tố Hữu tìm về với văn học cổ để khai phá cái tình, cái tứ trong thẻ thơ lục bát bình dị, tạo âm hưởng đối thoại tâm tình giữa quân và dân. Giữa đồng bào và người lính, giữa những đồng đội không phải là “anh – tôi” như trong “Đồng chí” (Chính Hữu), không phải “nàng, em” trong lời thơ Tây Tiến (Quang Dũng), tình cảm son sắt, thắm đượm ấy đã trở thành “mình – ta”. Lối xưng hô quen thuộc trong ca dao dân ca xưa vừa gợi nét ấm cúng, thân mật, vừa tạo nên nét độc đáo trong ngòi bút khám phá của Tố Hữu. Với nhà thơ, tình quân dân cũng ấm nồng như tình cảm gia đình, cần sự thủy chung, gắn bó bền chặt không rời. Lời thơ là lời của người ở lại nói với người ra đi rằng: sau khi trở về thành thị phồn hoa rồi, liệu lòng người có còn vương vấn chút gì nơi đây, có nhớ “mười lăm năm” kháng chiến gian khổ, có nhớ núi rừng đồng cỏ nơi đây hay không. Nỗi niềm ấy cứ day dứt trong lòng người ở lại. Ngay sau cụm từ “mười lăm năm” dài đằng đẵng ấy là hình ảnh của non sông suối nguồn miền cao, gợi cho bạn đọc cảm giác mênh mang, chơi vơi của nỗi nhớ, nó đã trải ra khắp không gian, thấm đượm vào từng vết hằn của thời gian đời người. Câu thơ chất chứa cái tình, cái nghĩa của người ra đi và người ở lại, hay cũng chính là cái gắn bó sâu đậm của đồng bào miền ngược với những chiến sĩ miền xuôi.

Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Nhớ về Việt Bắc, người lính nhớ thiên nhiên đại ngàn hùng vĩ, nhớ về những tháng ngày chiến đấu gian khổ và đặc biệt hơn cả là nhớ về trái tim của những người ở lại. “Tiếng ai” – tiếng người ở lại hay tiếng người ra đi, nhà thơ không nói rõ nhưng dù là của ai cũng đều bâng khuâng, bồn chồn không yên. Phải chăng đó là nỗi lòng người lính khi phải rời xa chốn thân thương này, bồi hồi, lưu luyến không thể cất bước. Tố Hữu đã sử dụng nghệ thuật hoán dụ vô cùng tinh tế “Áo chàm đưa buổi phân ly”. Áo chàm là trang phục truyền thống của đồng bào dân tộc trên vùng cao, dùng hình ảnh áo chàm để khắc họa lên hình ảnh con người, vừa kín đáo, vừa giàu giá trị nghệ thuật, Lời thơ trở nên mềm mại, giàu hình ảnh hơn. Trong giờ phút chia tay ấy, mọi người đứng gần nhau, nắm tay nhau. Bao kỉ niệm, bao lời giãi bày đều không thể cất nên thành tiếng. Khoảng lặng vô định bỗng chiếm đoạt bầu không gian, là lúc tiếng lòng cất lời. Chỉ nhìn nhau, chỉ nắm tay nhau cũng đủ hiểu nhau. Đó là biểu hiện của sự đoàn kết, gắn bó keo sơn suốt bao năm tháng. Chỉ bằng những hình ảnh giản dị, ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhà thơ đã khắc họa nên bức tranh buổi chia tay vô cùng ấm nồng, cảm động. Con người, thời gian, không gian như hòa làm một. Tình cảm quân dân, đồng chí- đồng bào đã trở thành tình yêu đất nước.

Bằng tài năng nghệ thuật cùng tâm hồn nhạy cảm, tha thiết với Cách mạng, Tố hữu đã tái hiện lại khung cảnh buổi chia tay đầy xúc động của đồng bào dân tộc miền núi với chiến sĩ khi về xuôi. Từ đó làm ngời sáng lên vẻ đẹp của tình cảm quân dân gắn bó, thắp lên hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn.

…………….

Tải file về để xem thêm 2 bài phân tích tính dân tộc trong 8 câu thơ đầu Việt Bắc

Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài Việt Bắc đầy đủ

Bài văn mẫu 1

Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. 8 câu thơ đầu bài Việt Bắc đã tái hiện niềm thương nỗi nhớ, cũng chính là niềm trăn trở chung của đồng bào ta trong lần chia tay lịch sử.

Tính dân tộc là những dấu ấn độc đáo, không lặp lại, biểu hiện những gì là bản sắc, là những nét riêng biệt đặc thù của một dân tộc. Tính dân tộc được hiểu là một đặc tính nhưng đồng thời cũng là thước đo giá trị của một tác phẩm văn học. Những tác phẩm văn chương lớn từ trước cho đến nay. Mà những tác phẩm vừa mang tính nhân loại, vừa mang tính dân tộc sâu sắc.

Trong văn học, tính dân tộc được thể hiện ở cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Về nội dung, một tác phẩm mang tính dân tộc phải thể hiện được những vấn đề hiện thực đời sống cách mạng nóng bỏng liên quan đến vận mệnh dân tộc, những tình cảm chính trị có sự gắn bó, hòa nhập với truyền thống tình cảm và đạo lí của dân tộc, khát vọng và ý chí của một dân tộc. Về hình thức nghệ thuật, tác phẩm đó tiếp thu một cách sáng tạo tinh hoa văn hóa của dân tộc (cách so sánh, ẩn dụ, hiện tượng chuyển nghĩa, cách diễn đạt gần với ca dao dân ca). Nếu hiểu như thế thì thơ Tố Hữu mang phong cách nghệ thuật “đậm đà bản sắc dân tộc”.

Bốn câu thơ đầu là lời ướm hỏi dạt dào tình cảm của người ở lại, khơi gợi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội nghĩa tình, thể hiện tâm trạng nhớ thương, tình cảm gắn bó, thủy chung của quê hương Việt Bắc, con người Việt Bắc dành cho người về xuôi. Ở đây, nhà thơ sử dụng thành công những hình ảnh đối đáp kiểu dân gian:

Mình về mình có nhớ taMười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Khung cảnh chia tay bịn rịn giữa kẻ ở và người về. Cách xưng hô “mình – ta”: thân mật gần gũi như trong ca dao. Điệp từ “nhớ” thể hiện nỗi nhớ da diết, sâu nặng. Cách xưng hô “mình – ta” : thân mật gần gũi như trong ca dao. Điệp cấu trúc “mình về mình có nhớ” : lời ướm hỏi, khơi gợi lại những kỉ niệm về “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.

Người ở lại đặt câu hỏi tu từ “Mình về mình có nhớ ta” để nhắc nhớ người ra đi, gợi trong người ra đi những kỷ niệm về ” mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”. Mười lăm năm ấy được tính từ năm 1940 sau khởi nghĩa Bắc Sơn cho đến tháng 10.1954, là mười lăm năm “Mình đây ta có đắng cay ngọt bùi”, là mười lăm năm có phúc cùng hưởng, có họa cùng chia, mười lăm năm “bát cơm chấm muối mối thù nặng vai”…làm sao kể xiết biết bao ân tình. Bốn từ “thiết tha mặn nồng” cho thấy tình cảm giữa Việt Bắc và cán bộ thật thủy chung sâu nặng, keo sơn bền chặt. Có lẽ vì thế nên nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Quyền đã cho rằng: ” “Mười lăm năm ấy” không chỉ đo bằng thước đo thời gian mà còn đo bằng thước đo tình cảm con người. Đó chính là thứ thuốc thử làm tăng thêm sự gắn bó keo sơn”.

“Mình về mình có nhớ không?Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”

Lại một câu hỏi tu từ nữa xuất hiện. Lại là một lời nhắc nhớ, gợi thương. Về Hà Nội rồi, thấy cây hãy nhớ đến núi rừng chiến khu, nhìn sông hãy nhớ đến suối nguồn Việt Bắc. Cách gợi nhắc như lời dặn dò kín đáo mà chân thành: Việt Bắc là cội nguồn cách mạng, “Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa”, là trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến. Câu thơ này phải chăng là sự vận dụng linh hoạt và tài tình của nhà thơ Tố Hữu với câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”. Qua đó nhà thơ cũng nhắc nhớ các thế hệ con cháu phải biết hướng về gốc gác, về nơi bén rễ, về cái nôi cho ta hình hài. Hai câu hỏi đều hướng về nỗi nhớ, một nỗi nhớ về thời gian “mười lăm năm”, một nỗi nhớ về không gian: sông, núi, nguồn. Đó là khoảng thời gian gắn bó biết bao kỉ niệm của người dân Việt Bắc với người lính.

Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân lyCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Bốn câu thơ là tiếng lòng của người cán bộ cách mạng về xuôi: tâm trạng bâng khuâng, bồn chồn đầy lưu luyến, bịn rịn của người kháng chiến đối với cảnh và người Việt Bắc.

Từ láy “bâng khuâng” thể hiện sự xao xuyến, “bồn chồn” thể hiện sự không yên tâm trong dạ, không nỡ rời bước. Hình ảnh “áo chàm” chỉ người dân Việt Bắc thân thương giản dị. Cử chỉ “cầm tay nhau” thay lời nói chứa đầy cảm xúc. Không khí buổi chia tay thân tình, gần gũi, bịn rịn không muốn chia xa.

Lời người ở lại nhắn gửi tới người ra đi: Lời nhắn gửi được thể hiện dưới hình thức những câu hỏi: nhớ về Việt Bắc cội nguồn quê hương cách mạng, nhớ thiên nhiên Việt Bắc, nhớ những địa danh lịch sử, nhớ những kỉ niệm ân tình…

Nếu như người Việt Bắc gửi theo bước chân của người miền xuôi với bao nhiêu nỗi nhớ thì trong lời đối đáp của người miền xuôi cũng đầy ắp những bâng khuâng tha thiết. Không sử dụng đại từ xưng hô “mình”, “ta” mà người xưng hô sử dụng đại từ “ai” để khẳng định trước hết là sự gắn bó với người ở lại. Ai có thể là đại từ để hỏi nhưng ở đây đó chính là đại từ phiếm chỉ, rất gần cách nói của ca dao: “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi” Tố Hữu sử dụng và khai thác triệt để sự biến hoá hết sức linh diệu trong giá trị biểu cảm của từ “ai”. Một chữ “ai” của người về xuôi đủ làm xao xuyến lòng người đưa tiễn, đủ cho thấy người về xuôi yêu thương Việt Bắc đến chừng nào và hiểu nỗi niềm tha thiết của người Việt Bắc đối với cách mạng, đối với người miền xuôi. Một chữ “ai” làm xao động cả không gian đưa tiễn. Phải chăng: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”.

Hai từ láy “bâng khuâng” và “bồn chồn” góp phần làm tăng thêm tâm trạng người ra đi. Tình thương nỗi nhớ như níu chân người ở lại “Bước đi một bước lâu lâu lại dừng” để rồi “cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Không biết nói gì phải chăng là vì có quá nhiều thứ để nói. Bao nhiêu ân nghĩa, sắt son chẳng thể nào dùng ngôn từ để diễn tả, đành phải gửi tâm tình qua cái năm tay thật chặt, thật lâu. “Cầm tay” là biểu tượng của yêu thương đoàn kết. Chỉ cần cầm tay nhau thôi và hãy để hơi ấm nói lên tất cả, yêu thương, nhung nhớ, nghĩa tình sẽ ấm mãi như hơi ấm tay trao tay nhau lúc này. Dấu chấm lửng ở cuối câu như càng làm tăng thêm cái tình cảm mặn nồng, dạt dào, vô tận. Nó như nốt lặng trong một khuông nhạc mà ở đó tình cảm cứ ngân dài sâu lắng. Qua đó con người Việt Nam hiện lên thật đẹp với những phẩm chất tiêu biểu cho phẩm chất dân tộc: ân nghĩa, thủy chung, son sắt.

Về mặt nghệ thuật, Tố Hữu đã vô cùng khéo léo khi sử dụng thành công thể thơ lục bát- một thể thơ truyền thống của dân tộc để diễn tả tình cảm cách mạng. Từ xưa đến nay lục bát vốn là thể thơ dễ đi vào lòng người bởi âm điệu ngọt ngào vốn có của nó. Nếu dùng để diễn đạt tình cảm thì không còn gì hay bằng. Hay hơn nữa nhà thơ đã khéo vận dụng lối đối đáp vốn là hình thức diễn ý quen thuộc trong ca dao dân ca.

Chính điều ấy đã làm cho bài thơ mang đậm âm hưởng ngọt nào và thấm đượm tinh thần dân tộc. Bên cạnh đó ngôn ngữ là yếu tố góp một phần không nhỏ gợi lên cái hồn dân tộc của tác phẩm nói chung và tám câu thơ đầu nói riêng chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ thơ của Việt Bắc mượt mà, uyển chuyển đặc biệt là cặp đại từ nhân xưng mình-ta vừa ngọt ngào lại vừa sâu lắng mà ta thường bắt gặp trong những câu ca dao về tình yêu đôi lứa.

Tính dân tộc về mặt hình thức còn thể hiện qua hình ảnh. Đó là dáng núi hình sông :” Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Đó là hình ảnh chiếc áo chàm trong “buổi phân li”. Áo chàm là hình ảnh hoán dụ cho người dân Việt Bắc nghĩa tình nhưng cũng rất đỗi anh hùng. Những con người ấy là đại diện cho một dân tộc Việt Nam vừa hào hùng lại hào hoa: “Lưng mang gươm tay mềm mại bút hoa/Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa”.

Tính dân tộc không chỉ vô cùng thành công trên bình diện nghệ thuật mà còn đậm nét qua nội dung, tư tưởng. Việt Bắc nói chung và tám câu thơ đầu nói riêng phản ánh đậm nét hình ảnh con người Việt Nam trong thời đại cách mạng; đã đưa những tư tưởng tình cảm cách mạng hòa nhịp và tiếp nối truyền thống tinh thần, tình cảm đạo lý dân tộc.

Bằng tài hoa của một người nghệ sĩ và một trái tim luôn sục sôi ý chí cách mạng, Tố Hữu đã viết nên một bản tình ca, anh hùng ca đậm đà bản sắc dân tộc. Nghĩa tình sâu nặng của người kháng chiến đối với chiến khu Việt Bắc, của quần chúng đối với cách mạng trong thơ Tố Hữu là sự kế thừa tình cảm, đạo lý sống của con người Việt Nam “Uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung. Để rồi Việt Bắc đã thực sự trở thành một trong những bài ca không bao giờ quên, không thể nào quên.

Đoạn thơ nói riêng và bài thơ Việt Bắc nói chung là minh chứng cho sự thành công của thơ Tố Hữu trong việc kết hợp hai yếu tố: Cách mạng và Dân tộc trong hình thức đẹp đẽ của thơ ca. Tính dân tộc là một trong những đặc điểm nổi bật làm nên phong cách thơ Tố Hữu. Thơ Tố Hữu mang vẻ đẹp của thơ ca truyền thống nhưng vẫn mang đậm hồn thơ của thời đại cách mạng.

Bài văn mẫu 2

Những tên địa danh, đối với Địa lý chỉ đơn giản là một địa điểm, một đối tượng phân tích nhưng với Văn học, nó là cả một miền nhớ, miền ký ức và là nơi khơi nguồn cảm xúc. Tây Tiến. Sông Đuống, Kinh Bắc,… đã trở thành một miền thơ, là ký ức về một những năm tháng không thể nào quên của dân tộc. Việt Bắc cũng là một địa danh như thế. “Việt Bắc” chính là bản hùng ca, khúc tình ca về cuộc sống kháng chiến và con người kháng chiến. Ngay trong tám câu thơ đầu đã thể hiện được những điều đó:

Mình về mình có nhớ ta?Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.Mình về mình có nhớ không?Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Tháng 7 năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp quay trở lại nước ta đã kết thúc thắng lợi. Hòa bình được lặp lại, nửa đất nước được giải phóng. Tháng 10 năm 1954, Hà Nội được giải phóng, trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô. Lịch sử dân tộc bước sang một trang mới. Ở thời khắc này, người ta có nhu cầu nhìn lại chặng đường vừa qua, đồng thời hướng về con đường tương lai để bước tiếp. Bài thơ “Việt Bắc” ra đời để đáp ứng nhu cầu ấy của xã hội, là tiếng lòng của đồng bào mọi người. “Việt Bắc” là bản trường ca đầy ân tình – tình quê hương, tình đất nước, nghĩa tình giữa con người. Vì thế bài thơ là một bản tổng kết lịch sử bằng tâm tình. Bởi là một chặng đường dài nên từ những câu thơ này đến dòng thơ sau đều có sự phát triển và vận động, mang ý nghĩa riêng của nó.

Mở đầu bài thơ là lời của người ở lại gửi tới người ra đi:

Mình về mình có nhớ taMười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.Mình về mình có nhớ khôngNhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

Ta lại bắt gặp lối đối đáp “mình – ta” quen thuộc trong những câu hát giao duyên của lứa đôi, giữa “bến – thuyền”, “mận – đào”. Điệp cấu trúc: “Mình về, mình có nhớ….” là câu hỏi hay là sự gợi nhắc đầy ý tứ, ý tình. Nghe đâu đây những câu hát ân nghĩa ngày xưa như vọng về:

Thuyền về có nhớ bến chăng?Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

Hay:

Chàng về để áo lại đâyPhòng khi em đắp gió Tây lạnh lùng…

Lối đối đáp mình – ta với âm điệu ngọt ngào, thiết tha làm cho những câu thơ bỗng trở nên mềm mại, như cũng vấn vương nỗi lưu luyến, nhớ nhung. Tình quân – dân, vấn đề chính trị khô khan, từ bao giờ lại được trữ tình hóa, trở nên da diết và nồng nàn như tình yêu đôi lứa, đó chính là nhờ ngòi bút của nhà thơ Tố Hữu. “Mười lăm năm” không chỉ là khoảng thời gian địa lí, nó kí ức, là một phần thanh xuân của biết bao con người, của cả dân tộc. Một chữ “ấy” thôi, không cụ thể nhắc đến thời gian nào nhưng lại mở ra muôn vàn ý nghĩa. Mười năm năm của thời gian: từ những ngày thành lập ở Cao Bằng, những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc đến chiến thắng vang dội của Hồng Thái, Tân Trào… Mười năm năm ân tình, ân nghĩa của đồng đội, quân – dân của những ngày tháng “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”, “miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai”. Mất đi một chút rõ ràng để thêm nhiều tầng ý vị và tình cảm chính là như thế. Người ở lại còn gợi nhắc về những ân tình, thủy chung – đạo lí dân tộc: “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Những thành ngữ, chất liệu dân gian, qua ngòi bút tài hoa Tố Hữu, vừa mang hơi thở thời đại, vừa giữ được tính dân tộc của nó: “cây – núi”, “sông – nguồn”. Đó chẳng phải là câu thành ngữ quen thuộc: “Uống nước nhớ nguồn” đó sao? Bốn dòng thơ, cho 15 năm dằng dặc, vất vả mà hào hùng. Bốn dòng thơ cho những nghĩa tình không bao giờ nói hết. Bốn dòng thơ cho những da diết, luyến lưu không lỡ rời. Bốn dòng thơ cho cả lẽ sống cần có, bây giờ và mãi về sau: ân tình, thủy chung, uống nước nhớ nguồn…

Bốn câu thơ tiếp theo là cảnh tiễn đưa bâng khuâng trong nỗi lưu luyến, nhớ nhung của kẻ ở người đi:

Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Người ra đi bịn rịn, nhớ nhung, ngập ngừng mà lưu luyến khiến từng bước chân còn vương vấn mãi những âm thanh mơ hồ: “tiếng ai”. Đó là tiếng người ở lại hay tiếng vọng từ trong tâm tưởng người ra đi. Không gian từ ngoại giới: “bên cồn” chuyển vào “trong dạ” rồi “bồn chồn bước đi” từ hữu hình đến vô hình. Hữu hình hóa cái vô hình, ngoại giới hóa nội tâm càng làm bước đi thêm ngập ngừng, chầm chậm chẳng muốn rời. Những bước chân ngập ngừng ấy ta đã bắt gặp trong giây phút chia phút chia li của “chàng” và “nàng” trong “Chinh phụ ngâm”:

Bước đi một bước giây giây lại dừng

Nhưng ở đây lại là tình đồng chí, nghĩa đồng bào, thắm thiết và vấn vương tha thiết.

Từ âm thanh mơ hồ ấy, Tố Hữu đề cập đến hình ảnh cụ thể đến nao lòng: “áo chàm đưa buổi phân li”. Nói tới “áo” trong buổi chia ly là Tố Hữu đã trở về với ngọn nguồn dân tộc:

Áo xông hương để chàng vắt mắcĐêm em nằm em đắp dành hơi

(Ca dao)

Người về để áo lại đâyPhòng khi em đắp gió Tây lạnh lùng

(Ca dao)

Người lên ngựa, kẻ chia bàoRừng phong thu đã nhuốm màu quan san

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Nhưng chiếc áo trong thơ Tố Hữu không phải áo xông hương đài các hay áo bào sang trọng mà chỉ là “áo chàm” giản dị một sắc nâu. Đó không phải cái cầm tay “Nhủ rồi tay lại cầm tay” (Chinh phụ ngâm, Đoàn Thị Điểm) của nghĩa phu thê hay của tình đồng chí, đồng đội: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”, “Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” mà là cái nắm tay của tình đồng chí, đồng bào. Dấu “…” như khoảng trống, khoảng trắng vô ngôn mà hữu ý, dư tình. Đôi khi, không nói là để nói được nhiều nhất. Đôi khi, ngôn ngữ cũng bất lực trước tình cảm mênh mông của con người.

Đoạn thơ của Tố Hữu chỉ tám câu mà gợi lên nghĩa tình bao kể xiết: tình quân dân cá nước, tình đồng chí, nghĩa đồng bào. Những tình cảm chính trị được đưa vào thơ một cách rất tự nhiên, ý tình khiến cho thơ có “thép” mà không cứng, nói về lẽ sống lớn dân tộc mà không sa vào giáo điều, khô khan. Có được hiệu quả ấy chính là nhờ những câu thơ với lối nói dân gian gần gũi, giọng điệu tâm tình nhẹ nhàng với ngôn ngữ, hình ảnh trở về với cội nguồn dân tộc mà vẫn mang hơi thở thời đại càng làm cho đoạn thơ thêm hấp dẫn. Và chính những tình cảm ấy là động lực, là hậu phương cho con người Việt Nam vượt qua mưa bom bão đạn mà làm nên những chiến thắng “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Phải chăng, Với Tố Hữu, thơ là vũ khí đấu tranh cách mạng. Ðó chính là đặc sắc và cũng là bí quyết độc đáo của Tố Hữu trong thơ?

Xin mượn lời của nhà thơ – nhà phê bình một thời cùng Tố Hữu sống và viết, Chế Lan Viên, để làm lời kết: “Thơ Tố Hữu là thơ một con người biết trân trọng lấy đời mình, muốn làm cho đời mình trở nên hữu ích. Vậy thì ai kia còn phung phí đời mình, làm gì cũng được, sống sao cũng xong, trong khi đọc thơ này hãy bắt đầu thử dừng lại mà biết quý lấy đời mình, mà đem xây dựng nó.”

Bài văn mẫu 3

Văn mẫu lớp 12: Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài Việt Bắc 2 Dàn ý & 14 bài văn mẫu lớp 12 hay nhất

“Mỗi công dân đều có một dạng vân tayMỗi nhà thơ thứ thiệt đều có một dạng vân chữKhông trộn lẫn…”

(Vân chữ, Lê Đạt)

Cái “vân chữ không trộn lẫn” của nhà thơ hay của một nhà văn thứ thiệt mà Lê Đạt nhắc đến ở đây chính là phong cách tác giả, là sự thể hiện tài nghệ của người nghệ sĩ qua tác phẩm nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả. Là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng, Tố Hữu xuất hiện giữa làng thơ với một phong cách thơ độc đáo, hấp dẫn, đó chính là tính trữ tình chính trị sâu sắc, đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn. Kết tinh vẻ đẹp độc đáo ấy của thơ Tố Hữu phải kể đến “Việt Bắc” – bản anh hùng ca, cũng là bản tình ca về cách mạng kháng chiến và con người kháng chiến. Làm nên “Việt Bắc” – một bản tình ca thấm đẫm màu sắc dân tộc phải kể đến tám câu thơ đầu của tác phẩm:

Mình về mình có nhớ ta?Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.Mình về mình có nhớ không?Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản. Ông đến với thơ ca và cách mạng cùng một lúc. Vì vậy cho nên chặng đường thơ của ông luôn song hành với những chặng đường cách mạng mà lộng gió thời đại với những tập thơ: “Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta”. Trong đó có thể nói “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ ca Tố Hữu nói riêng và thơ ca chống Pháp nói chung. Bài thơ Việt Bắc được trích từ tập thơ cùng tên và được sáng tác vào tháng 10 năm 1945, khi Trung ương Đảng và Chính phủ cùng cán bộ chiến sĩ rời chiến khu để về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Lấy cảm cảm hứng từ buổi chia tay ấy, Tố Hữu đã xúc động viết nên bài thơ này. Tính dân tộc của bài thơ thể hiện ở cả nghệ thuật lẫn nội dung và thể hiện sâu sắc nhất là ở tám câu thơ đầu.

Tính dân tộc dân tộc là một khái niệm thuộc phạm trù tư tưởng- thẩm mĩ chỉ mối quan hệ văn học và dân tộc, thể hiện qua tổng thể những đặc điểm độc đáo tương đối bền vững chung cho các sáng tác của một dân tộc được hình thành trong quá trình phát triển của lịch sử và phân biệt so với các dân tộc khác. Tính dân tộc được thể hiện xuyên suốt từ nội dung đến hình thức.

Về mặt nghệ thuật, Tố Hữu đã vô cùng khéo léo khi sử dụng thành công thể thơ lục bát- một thể thơ truyền thống của dân tộc để diễn tả tình cảm cách mạng. Từ xưa đến nay lục bát vốn là thể thơ dễ đi vào lòng người bởi âm điệu ngọt ngào vốn có của nó. Nếu dùng để diễn đạt tình cảm thì không còn gì hay bằng. Hay hơn nữa nhà thơ đã khéo vận dụng lối đối đáp vốn là hình thức diễn ý quen thuộc trong ca dao dân ca:

Bây giờ mận mới hỏi đàoVườn hồng có lối ai vào hay chưaMận hỏi thì đào xin thưaVườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Chính điều ấy đã làm cho bài thơ mang đậm âm hưởng ngọt nào và thấm đượm tinh thần dân tộc. Bên cạnh đó ngôn ngữ là yếu tố góp một phần không nhỏ gợi lên cái hồn dân tộc của tác phẩm nói chung và tám câu thơ đầu nói riêng chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ thơ của Việt Bắc mượt mà, uyển chuyển đặc biệt là cặp đại từ nhân xưng mình-ta vừa ngọt ngào lại vừa sâu lắng mà ta thường bắt gặp trong những câu ca dao về tình yêu đôi lứa:

Mình về ta chẳng cho vềTa nắm vạt áo ta đề câu thơ

Chuyện ân tình cách mạng đã được Tố Hữu khéo léo thể hiện như tình yêu đôi lứa.

Mình về mình có nhớ ta?Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.Mình về mình có nhớ không?Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

“Mình” trên câu thơ trên chỉ người ra đi, còn “ta” là người ở lại. Dường như đây không còn là cuộc chia ly giữa đồng bào và cách mạng mà nó đã trở thành buổi chia ly của đôi lứa yêu nhau mặn nồng da diết. Qua đó ta mới mới phần nào thấm thía cái tình cảm mặn nồng, keo sơn của quân dân ta trong những buổi đầu đầu kháng chiến gian khổ, khó khăn. Dù bị cách trở bởi không gian và thời gian nhưng dường như cảm xúc từ trái tim đã nâng đỡ họ vượt qua mọi rào cản để trong tâm hồn “như chưa hề có cuộc chia ly”. Tính dân tộc về mặt hình thức còn thể hiện qua hình ảnh. Đó là dáng núi hình sông :” Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Đó là hình ảnh chiếc áo chàm trong “buổi phân li”. Áo chàm là hình ảnh hoán dụ cho người dân Việt Bắc nghĩa tình nhưng cũng rất đỗi anh hùng. Những con người ấy là đại diện cho một dân tộc Việt Nam vừa hào hùng lại hào hoa: “Lưng mang gươm tay mềm mại bút hoa/Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa”.

Tính dân tộc không chỉ vô cùng thành công trên bình diện nghệ thuật mà còn đậm nét qua nội dung, tư tưởng. Việt Bắc nói chung và tám câu thơ đầu nói riêng phản ánh đậm nét hình ảnh con người Việt Nam trong thời đại cách mạng; đã đưa những tư tưởng tình cảm cách mạng hòa nhịp và tiếp nối truyền thống tinh thần, tình cảm đạo lý dân tộc.

Mình về mình có nhớ ta?Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Người ở lại đặt câu hỏi tu từ “Mình về mình có nhớ ta” để nhắc nhớ người ra đi, gợi trong người ra đi những kỷ niệm về “ mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”. Mười lăm năm ấy được tính từ năm 1940 sau khởi nghĩa Bắc Sơn cho đến tháng 10.1954, là mười lăm năm “Mình đây ta có đắng cay ngọt bùi”, là mười lăm năm có phúc cùng hưởng, có họa cùng chia, mười lăm năm “bát cơm chấm muối mối thù nặng vai” làm sao kể xiết biết bao ân tình. Bốn từ “thiết tha mặn nồng” cho thấy tình cảm giữa Việt Bắc và cán bộ thật thủy chung sâu nặng, keo sơn bền chặt. Có lẽ vì thế nên nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Quyền đã cho rằng: “Mười lăm năm ấy” không chỉ đo bằng thước đo thời gian mà còn đo bằng thước đo tình cảm con người. Đó chính là thứ thuốc thử làm tăng thêm sự gắn bó keo sơn”.

Mình về mình có nhớ không?Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn.

Lại một câu hỏi tu từ nữa xuất hiện. Lại là một lời nhắc nhớ, gợi thương. Về Hà Nội rồi, thấy cây hãy nhớ đến núi rừng chiến khu, nhìn sông hãy nhớ đến suối nguồn Việt Bắc. Cách gợi nhắc như lời dặn dò kín đáo mà chân thành: Việt Bắc là cội nguồn cách mạng, “Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa”, là trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến. Câu thơ này phải chăng là sự vận dụng linh hoạt và tài tình của nhà thơ Tố Hữu với câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”. Qua đó nhà thơ cũng nhắc nhớ các thế hệ con cháu phải biết hướng về gốc gác, về nơi bén rễ, về cái nôi cho ta hình hài.

Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Nếu như người Việt Bắc gửi theo bước chân của người miền xuôi với bao nhiêu nỗi nhớ thì trong lời đối đáp của người miền xuôi cũng đầy ắp những bâng khuâng tha thiết. Không sử dụng đại từ xưng hô “mình”, “ta” mà người xưng hô sử dụng đại từ “ai” để khẳng định trước hết là sự gắn bó với người ở lại. Ai có thể là đại từ để hỏi nhưng ở đây đó chính là đại từ phiếm chỉ, rất gần cách nói của ca dao: “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi” Tố Hữu sử dụng và khai thác triệt để sự biến hoá hết sức linh diệu trong giá trị biểu cảm của từ “ai”. Một chữ “ai” của người về xuôi đủ làm xao xuyến lòng người đưa tiễn, đủ cho thấy người về xuôi yêu thương Việt Bắc đến chừng nào và hiểu nỗi niềm tha thiết của người Việt Bắc đối với cách mạng, đối với người miền xuôi. Một chữ “ai” làm xao động cả không gian đưa tiễn. Phải chăng: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn” Hai từ láy “bâng khuâng” và “bồn chồn” góp phần làm tăng thêm tâm trạng người ra đi. Tình thương nỗi nhớ như níu chân người ở lại “Bước đi một bước lâu lâu lại dừng” để rồi “cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Không biết nói gì phải chăng là vì có quá nhiều thứ để nói. Bao nhiêu ân nghĩa, sắt son chẳng thể nào dùng ngôn từ để diễn tả, đành phải gửi tâm tình qua cái nắm tay thật chặt, thật lâu. “Cầm tay” là biểu tượng của yêu thương đoàn kết. Chỉ cần cầm tay nhau thôi và hãy để hơi ấm nói lên tất cả, yêu thương, nhung nhớ, nghĩa tình sẽ ấm mãi như hơi ấm tay trao tay nhau lúc này. Dấu chấm lửng ở cuối câu như càng làm tăng thêm cái tình cảm mặn nồng, dạt dào, vô tận. Nó như nốt lặng trong một khuông nhạc mà ở đó tình cảm cứ ngân dài sâu lắng. Qua đó con người Việt Nam hiện lên thật đẹp với những phẩm chất tiêu biểu cho phẩm chất dân tộc: ân nghĩa, thủy chung, son sắt.

Bằng tài hoa của một người nghệ sĩ và một trái tim luôn sục sôi ý chí cách mạng, Tố Hữu đã viết nên một bản tình ca, anh hùng ca đậm đà bản sắc dân tộc. Để rồi Việt Bắc đã thực sự trở thành một trong những bài ca không bao giờ quên, không thể nào quên.

Bài văn mẫu 4

Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ ông mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, đậm chất trữ tình. Trong sự nghiệp sáng tác của mình ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị như tập thơ “Từ ấy”, “Máu và hoa” trong đó tiêu biểu nhất là bài thơ “Việt Bắc” trích trong tập thơ “Việt Bắc”. Bài thơ đã thể hiện một cách thành công về nỗi nhớ nhung, tâm trạng bồi hồi, lưu luyến trong buổi chia tay của người Việt Bắc với cán bộ cách mạng. Điều đó được thể hiện rõ nhất trong đoạn thơ:

Mình về mình có nhớ ta?…Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Việt Bắc là căn cứ địa cách mạng, là cái nôi kháng chiến. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 7 năm 1954, hiệp định Giơ ne vơ được ký kết. Tháng 10 năm 1954, Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt bắc trở về Hà Nội. Nhân sự kiện lịch sử ấy Tố Hữu đã viết bài thơ “Việt Bắc”.

Câu thơ mở đầu là một câu hỏi tu từ chứa nhiều cảm xúc:

Mình về mình có nhớ ta?

“Mình” là chỉ người ra đi – người chiến sĩ cách mạng, “ta” chính là người Việt Bắc. Câu hỏi chính là lời của người ở lại hỏi người ra đi rằng khi người chiến sĩ cách mạng về xuôi rồi còn có nhớ đến người Việt Bắc hay không? Với cách xưng hô “mình – ta” đậm chất ca dao cùng với điệp từ mình đã cho ta thấy được tình cảm gắn bó thân thiết đầy yêu thương, làm cho nỗi nhớ càng trở nên day dứt khôn nguôi. Người Việt Bắc muốn hỏi người kháng chiến có nhớ:

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mười lăm năm là từ chỉ thời gian, là khoảng thời gian gắn bó keo sơn giữa người chiến sĩ và người Việt Bắc. Đó là một khoảng thời gian dài cùng nhau chiến đấu, cùng nhau vượt qua biết bao gian khổ. Từ “ấy” vang lên chứ tác giả không sử dụng từ “đó” như để làm tăng thêm ý nghĩa của khoảng thời gian “mười lăm năm” đồng thời thể hiện sự trân trọng của tác giả với những ngày tháng gắn bó. Những từ “thiết tha”, “mặn nồng” là những từ nhấn mạnh tình cảm gắn bó keo sơn giữa người Việt Bắc và người cách mạng. Qua đó tác giả muốn nhấn mạnh hơn về tình nghĩa thủy chung son sắt luôn hướng tới cách mạng, hướng tới những người chiến sĩ của người dân Việt Bắc.

Câu thơ tiếp theo như một lời nhắc nhở đối với người chiến sĩ cách mạng:

Mình về mình có nhớ không?

Vẫn là câu hỏi tu từ, vẫn là cách xưng hô “mình” nhưng đây là câu hỏi vang lên như một lời nhắc nhở “có nhớ không”. Người Việt Bắc muốn nhắc nhở người chiến sĩ cách mạng về xuôi hãy nhớ đến Việt Bắc, hãy:

Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn.

Khi về tới Hà Nội, người cách mạng khi nhìn thấy cây ở Hà Nội phồn hoa thì hãy nhớ đến núi rừng nơi Việt Bắc. Hãy nhớ nơi gắn bó thủy chung son sắc, nơi người cách mạng và người Việt Bắc đã cùng chiến đấu, cùng nhau vượt qua bao gian khổ. Khi nhìn thấy sông thì hãy nhớ đến nguồn, hãy nhớ đến sông núi Việt Bắc, nhớ đến những dòng sông cùng các chiến sĩ cách mạng chiến đấu. Hay đó chính là lời nhắc nhở của người Việt Bắc đối với người chiến sĩ cách mạng khi trở về xuôi nhìn thấy cảnh vật nơi phồn hoa đô thị tươi đẹp ấy thì hãy nhớ đến con người Việt Bắc, nhớ đến những ngày tháng chiến đấu gian khổ nơi núi rừng đầy hiểm trở, cheo leo. Điệp từ “nhìn” và “nhớ” dường như đã nhấn mạnh ý hỏi của người ở lại. Mong muốn những người cách mạng luôn nhớ về nơi Việt Bắc. Nơi có những con người sắt son, thủy chung, luôn mong nhớ về người cách mạng.

Bốn câu thơ đầu tiên là lời của người Việt Bắc hỏi người cán bộ về xuôi. Với lối đối đáp cách xưng hô “mình – ta” kết hợp sử dụng biện pháp điệp từ cùng với từ láy, đặc biệt là kết hợp với câu hỏi tu từ đã cho thấy được tình cảm gắn bó thiết tha, mặn nồng, thủy chung son sắt của người Việt Bắc. Qua đó ta có thể cảm nhận được phẩm chất tốt đẹp của con người nơi đây. Dù phải sống trong khó khăn, đồi núi hiểm trở, thiếu thốn nhưng tình yêu của họ đối với người chiến sĩ là không hề thay đổi, luôn luôn cồn cào, da diết và mãnh liệt.

Vẻ đẹp của đoạn thơ không chỉ là lời của người Việt Bắc mà còn là câu trả lời của người cách mạng dành cho Việt Bắc:

Tiếng ai tha thiết bên cồn…Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Với đại từ nhân xưng “ai” đó chính là tiếng lòng của người Việt Bắc vang vọng như muốn gọi người chiến sĩ ở lại, hay đó chính là tiếng lòng của người chiến sĩ không muốn chia xa. Từ “tha thiết” như làm cho tiếng gọi đó vang vọng hơn, sâu lắng hơn, làm cho ta cảm nhận được tình cảm giữa Việt Bắc và người cán bộ cách mạng như vô cùng sâu nặng. Câu thơ tiếp theo càng làm rõ hơn điều đó:

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

Từ láy “bâng khuâng”, “bồn chồn” chính là để chỉ tâm trạng người ra đi. “Bâng khuâng” là trạng thái lưu luyến day dứt, như còn lâng lâng một điều gì đó sâu sắc lắm trong tình cảm của mình. Nó khiến cho tâm trạng của con người day dứt đến khó chịu còn “bồn chồn” là chỉ sự ray rứt trong tâm trạng của con người như lo lắng điều gì đó. Tất cả đã tạo nên tâm trạng của người chiến sĩ cách mạng về xuôi, khi trở về xuôi vẫn còn mang trong mình nỗi nhung nhớ, ray rứt khôn nguôi, cả sự lo lắng trong tâm trạng của người cán bộ cách mạng. Qua đó ta có thể cảm nhận được tình cảm của người cách mạng đối với Việt Bắc cũng sâu nặng không kém gì tình cảm của người Việt Bắc dành cho họ.

Hai câu thơ cuối là hình ảnh chia tay đầy nước mắt giữa người chiến sĩ cách mạng và người Việt Bắc:

Áo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

“Áo chàm” là màu áo nâu, là màu áo của người nông dân nghèo khổ, cực nhọc, vất vả quanh năm suốt tháng lao động cần cù để phục vụ cho cách mạng. Hình ảnh hoán dụ “áo chàm” chính là để chỉ người Việt Bắc. Những người Việt Bắc ra tiễn những người cách mạng về xuôi trong một tâm trạng day dứt, bâng khuâng. Từ “phân li” như thể hiện buổi chia tay ấy như là sự chia cắt. Dường như họ không muốn rời xa nhau nhưng do hoàn cảnh họ phải chia ly, xa rời nhau mỗi người một nơi. Qua đó thể hiện nỗi tiếc thương nhung nhớ, khẳng định tình cảm gắn bó sâu đậm của người Việt Bắc và người chiến sĩ cách mạng. Tình cảm ấy được khẳng định rõ ràng hơn trong câu thơ cuối:

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Không phải không có gì để nói mà là có quá nhiều điều để nói, không thể nói hết và không biết nói điều gì đầu tiên, từ “biết nói gì” đã thể hiện điều đó. Mười lăm năm gắn bó keo sơn, mười lăm năm cùng nhau vượt qua bao khó khăn gian khổ tình cảm của họ quá sâu đậm, có quá nhiều điều để nói nhưng những lời nói ấy tại sao không thốt nên lời, nó cứ nghẹn lại trong cổ họng mà thứ trào ra chỉ có nước mắt của sự chia ly. Không nói ra được họ chỉ biết cầm tay nhau, chỉ hành động “cầm tay” thôi đã cho ta cảm nhận thấy tình yêu thương mặn nồng giữa họ. Hành động “cầm tay” thay cho những lời nói yêu thương, những lời gửi gắm, tình cảm giữa họ dường như được truyền hết qua hành động ấy. Đó còn là sự thể hiện tình cảm, tâm trạng chưa xa đã nhớ của người chiến sĩ cách mạng và đó cũng chính là tiếng lòng của họ.

Tám câu thơ ngắn gọn nhưng mang biết bao ý nghĩ. Qua đó cho ta cảm nhận sâu sắc về tình cảm thủy chung son sắt, gắn bó sâu nặng giữa người Việt Bắc và người cán bộ cách mạng về xuôi. Qua đó ta thấy được tâm trạng bồi hồi lưu luyến day dứt của họ.

Không chỉ thành công về nội dung, đoạn thơ còn thành công về nghệ thuật. Với lối đối đáp, cách xưng hô mình – ta, điệp từ, điệp ngữ cùng với hình ảnh hoán dụ, từ láy, ngôn từ bình dị, đậm đà tính dân tộc, tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu.

Qua đoạn thơ ta đã cảm nhận được một cách rõ nét tình cảm, tấm lòng, tình yêu thương mà người Việt Bắc và người cán bộ cách mạng dành cho nhau. Tám câu thơ trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu mang lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Những ân tình ấy sẽ sống mãi trong lòng người đọc hôm nay và mai sau.

…………..

Tải file về để xem thêm bài phân tích tính dân tộc trong 8 câu thơ đầu Việt Bắc đầy đủ

Tin Tức

Tổng hợp

15
Tổng hợp

Phương pháp bảo toàn nguyên tố trong hóa học cực hay, có lời giải

Phương pháp bảo toàn nguyên tố trong hóa học cực hay, có lời giải

Phương pháp giải

1. Nội dung

Tổng số mol nguyên tử của một nguyên tố X bất kỳ trước và sau phản ứng là luôn bằng nhau

2. Phạm vi sử dụng

Trong các phản ứng hóa học các nguyên tố luôn được bảo toàn

⇒ Số mol nguyên tử của một nguyên tố X bất kì trước và sau phản ứng bằng nhau

Hầu hết tất cả các dạng bài tập đều có thể sử dụng phương pháp bảo toàn nguyên tố, đặc biệt là các dạng bài hỗn hợp nhiều chất, xảy ra biến đổi phức tạp. Thường sử dụng trong các trường hợp sau:

+ Từ nhiều chất ban đầu tạo thành sản phẩm

Từ dữ kiện đề bài ⇒ số mol của nguyên tố X trong các chất ban đầu ⇒ tổng số mol trong sản phẩm ⇒ số mol sản phẩm

+ Từ một chất ban đầu tạo thành hỗn hợp nhiều sản phẩm

Từ dữ kiện đề bài ⇒ Tổng số mol ban đầu, số mol của các hợp phần đã cho ⇒ số mol chất cần xác định

+ Từ nhiều chất ban đầu tạo thành nhiều sản phẩm

Đối với dạng bài này không cần thiết phải tìm chính xác số mol của từng chất, chỉ quan tâm: Phương pháp bảo toàn nguyên tố trong hóa học cực hay, có lời giải( chỉ quan tâm đến tổng số mol của các nguyên tố trước và sau phản ứng)

+ Đốt cháy để phân tích thành phần nguyên tố của hợp chất

Chú ý:

+ Hạn chế viết phương trình phản ứng mà viết sơ đồ phản ứng biểu diễn sự biến đổi của nguyên tố đang cần quan tâm

+ Từ số mol của nguyên tố chúng ta quan tâm sẽ tính ra được số mol của các chất

+ Số mol nguyên tố trong hợp chất bằng số nguyên tử của nguyên tố đó trong hợp chất nhân với số mol hợp chất chứa nguyên tố đó

Giả sử ta có hợp chất AxBy có số mol là a (mol).

Khi đó số mol nguyên tố A và B trong hợp chất là: Phương pháp bảo toàn nguyên tố trong hóa học cực hay, có lời giải

Ví dụ minh họa

Ví dụ 1: Từ 6,2 gam photpho điều chế được bao nhiêu lít dung dịch H3PO4 2M (hiệu suất toàn bộ quá trình phản ứng là 80%).

A. 100 lít.

B. 80 lít.

C. 40 lít.

D. 64 lít.

Giải:

+ Nhận thấy lượng P ban đầu được bảo toàn thành P trong HNO3 80% vì hiệu suất cả quá trình điều chế là 80%.

Phương pháp bảo toàn nguyên tố trong hóa học cực hay, có lời giải

Đáp án B.

Ví dụ 2: Đốt cháy 4,16 gam hỗn hợp Mg và Fe trong khí O2, thu được 5,92 gam hỗn hợp X chỉ gồm các oxit. Hòa tan hoàn toàn X trong dung dịch HCl vừa đủ, thu được dung dịch Y. Cho dung dịch NaOH dư vào Y, thu được kết tủa Z. Nung Z trong không khí đến khối lượng không đổi, thu được 6 gam chất rắn. Mặt khác cho Y tác dụng với dung dịch AgNO3 dư, thu được m gam kết tủa. Giá trị của m là

A. 32,65.

B. 31,57.

C. 32,11.

D. 10,80.

Giải:

Phương pháp bảo toàn nguyên tố trong hóa học cực hay, có lời giải

+ Tương tự như trên ta cần phải tính được nAg, nung Z thu được oxit có m = 6g > mX(5,92g)

⇒ Trong X phải có FeO,

Do đó khối lượng O dùng để oxi hóa Fe2+ trong X thành Fe3+ là:

Phương pháp bảo toàn nguyên tố trong hóa học cực hay, có lời giải

Đáp án A

Ví dụ 3: Một hỗn hợp A gồm anđehit acrylic và một anđehit no, đơn chức X. Đốt cháy hoàn toàn 3,44 gam hỗn hợp trên cần vừa hết 4,592 lít khí oxi (đktc). Cho toàn bộ sản phẩm cháy hấp thụ hết vào dung dịch Ca(OH)2 dư, thu được 17 gam kết tủa. Công thức cấu tạo của X là:

A.CH2O.

B.C2H4O.

C.C3H6O.

D.C4H8O.

Giải

Trước hết ta tính được tất cả những gì có thể tính được ngay:

Phương pháp bảo toàn nguyên tố trong hóa học cực hay, có lời giải

Bảo toàn khối lượng:

Phương pháp bảo toàn nguyên tố trong hóa học cực hay, có lời giải

Anđehit đơn chức ⇒ do đó nA = nO(trong A)

+ Áp dụng định luật bảo toàn nguyên tố O, ta được:

Phương pháp bảo toàn nguyên tố trong hóa học cực hay, có lời giải

Vì anđehit acrylic CH2 = CH – CHO có phân tử khối là 56 nên suy ra được X < 49,14 ⇒ loại ngay đáp án C và D.

+ Vì X là anđehit no đơn chức nên có dạng CnH2nO ⇒ nCO2 = nH2O

Vì anđehit acrylic là anđehit có một nối đôi, đơn chức có công thức là C3H4O

Phương pháp bảo toàn nguyên tố trong hóa học cực hay, có lời giải

Ví dụ 4: Hấp thụ hoàn toàn 2,24 lít (đktc) CO2 vào 100ml dung dịch gồm K2CO3 0,2 M và KOH x mol/lít. Sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn thu được dung dịch Y. Cho toàn bộ Y tác dụng với dung dịch BaCl2 dư được 11,82 gam kết tủa. Giá trị X là:

A, 1,0.

B. 1,4.

C. 1,2.

D. 1,6.

Giải:

Phương pháp bảo toàn nguyên tố trong hóa học cực hay, có lời giải

Ví dụ 5: Trong một bình kín chứa 3,5 mol hỗn hợp gồm H2, một amin đơn chức và 4 mol O2. Bật tia lửa điện để đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp. Thu được 1 mol CO2; 0,5 mol N2; 0,5 mol O2 và a mol H2O. Công thức phân tử của amin là:

A. CH5N.

B. C3H6N.

C. C3H5N.

D. C2H7.

Giải:

Bảo toàn nguyên tố O

Phương pháp bảo toàn nguyên tố trong hóa học cực hay, có lời giải

Do đó công thức của amin là CH5N ⇒ Đáp án A

Bài tập tự luyện

Bài 1: Đốt cháy 9,8g bột Fe trong không khí thu được hỗn hợp rắn X gồm FeO, Fe3O4 và Fe2O3. Để hòa tan X cần dùng vừa hết 500ml dung dịch HNO3 1,6M, thu được V lít khí NO ( sản phẩm khử duy nhất). Gía trị của V là:

A. 6,16

B. 10,08

C. 11,76

D. 14,0

Bài 2: Hỗn hợp X gồm C3H6, C4H10, C2H2 và H2. Cho m gam X vào bình kín có chứa một ít Ni làm xúc tác. Nung bình được hỗn hợp Y. Đốt cháy hoàn toàn Y cần V lít O2 (đktc), sản phẩm hấp thụ vào bình đựng nước vôi trong dư thu được dung dịch có khối lượng giảm 21,45 gam. Nếu Y đi qua bình đựng lượng dư dung dịch brom trong CCl4 thì có 24 gam brom phản ứng. Mặt khác, 11,2 lít hỗn hợp X đi qua bình đựng dung dịch brom dư trong CCl4 thấy có 64 gam brom phản ứng. Tìm V?

Bài 3: Một hỗn hợp gồm Al2(SO4)3 và K2SO4, trong đó Số nguyên tử oxi chiếm 20/31 tổng số nguyên tử có trong hỗn hợp. Hoà tan hỗn hợp trên vào nước rồi cho tác dụng với dung dịch BaCl2 dư, hỏi khối lượng kết tủa thu được gấp bao nhiêu lần khối lượng hỗn hợp ban đầu:

A. 1,788 lần.

B. 1,488 lần.

C. 1,688 lần.

D. 1,588 lần.

Bài 4: Hỗn hợp X gồm 1 ancol và 2 sản phẩm hợp nước của propen. Tỉ khối hơi của X so với hiđro bằng 23. Cho m gam X đi qua ống sứ đựng CuO (dư) nung nóng. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được hỗn hợp Y gồm 3 chất hữu cơ và hơi nước, khối lượng ống sứ giảm 3,2 gam. Cho Y tác dụng hoàn toàn với lượng dư dung dịch AgNO3 trong NH3, tạo ra 48,6g Ag. Phần trăm khối lượng của propan-l-ol trong X là:

A. 65,2%:

B. 16,3%.

C. 48,9%.

D. 34,5%.

Bài 5: Cho 46,6 gam hỗn hợp X gồm Na, K, Ba và Al2O3 (trong đó oxi chiếm 30,9% về khối lượng) tan hết vào nước thu được dung dịch Y và 8,96 lít H2 (đktc). Cho 3,1 lít dung dịch HC1 0,5M vào dung dịch Y thu được m gam kết tủa. Giá trị của m là:

A. 7,8.

B. 35,1.

C. 27,3.

D. 0.

Bài 6: Đốt cháy hoàn toàn m gam hỗn hợp X gồm hai este đồng phân cần dùng 27,44 lít khí O2 thu được 23,52 lít khí CO2 và 18,9 gam H2O. Nếu cho m gam X tác dụng hết với 400 ml dung dịch NaOH 2M, cô cạn dung dịch sau phản ứng thì thu được 27,9 gam chất rắn khan, trong đó có a mol muối Y và b mol muối Z (My < Mz). Các thể tích khí đều đo ở điều kiện tiêu chuẩn. Tỉ lệ a : b là

A. 2:3.

B. 3 : 5.

C. 4 : 3.

D. 3 : 2.

Bài 7: Cho 6,44 gam một ancol đơn chức phản ứng với CuO đun nóng, thu được 8,68 gam hỗn hợp X gồm anđehit, nước và ancol dư. Cho toàn bộ X tác dụng với lượng dư dung dịch AgNO3 trong NH3, kết thúc các phản ứng thu được m gam Ag. Giá trị của m là

A.30,24.

B. 86,94.

C. 60,48.

D. 43,47.

Bài 8: Hòa tan m gam hỗn hợp X gồm FeO, Fe(OH)2, Fe(OH)3 ( ) trong dung dịch HNO3 vừa đủ thu được dung dịch Y và khí NO (sản phẩm khử duy nhất, đktc). Cô cạn dung dịch Y và lấy chất rắn thu được nung đến khối lượng không đổi thu được 30,4 gam chất rắn khan. Nếu cho 11,2 gam Fe vào dung dịch Y thu được dung dịch Z và p gam chất rắn không tan. p có giá trị là

A.0,84 g.

B. 0,56 g.

C. 0,28 g.

D. 1,12 g.

Bài 9: Phân supephotphat kép thực tế sản xuất được thường chỉ có 40% P2O5. Hàm lượng Ca(H2PO4)2 trong phân bón đó là

A. 56,94%.

B. 65,92%.

C. 78,56%.

D. 75,83%.

Bài 10: Hỗn hợp X gồm axit fomic, axit acrylic, axit oxalic và axit axetic . Cho m gam X phản ứng hết với dung dịch NaHCO3 thu được 0,672 lít CO2 (đktc). Đốt cháy hoàn toàn m gam X cần 1,008 lít O2 (đktc), thu được 2,42 gam CO2 và a gam H2O. Giá trị của a là

A. 1,80.

B. 0,72.

C. 1,44.

D. 1,62

Xem thêm các phương pháp giải nhanh bài tập Hóa học hay khác:

  • Phương pháp bảo toàn điện tích trong hóa học hay, chi tiết, có lời giải
  • Phương pháp bảo toàn electron trong hóa học hay, chi tiết, có lời giải
  • Phương pháp bảo toàn khối lượng trong hóa học cực hay, có lời giải
  • Phương pháp chọn đại lượng thích hợp trong hóa học cực hay, có lời giải
  • Phương pháp đồ thị trong hóa học hay, chi tiết, có lời giải
  • Phương pháp đường chéo trong hóa học cực hay, chi tiết, có lời giải
  • Phương pháp trung bình trong hóa học cực hay, chi tiết, có lời giải
  • Phương pháp quy đổi trong hóa học cực hay, chi tiết, có lời giải
  • Phương pháp sử dụng phương trình ion thu gọn trong hóa học cực hay, có lời giải
  • Phương pháp tăng giảm khối lượng trong hóa học cực hay, có lời giải

Giới thiệu kênh Youtube VietJack

Ngân hàng trắc nghiệm miễn phí ôn thi THPT Quốc Gia tại banmaynuocnong.com

  • Hơn 75.000 câu trắc nghiệm Toán có đáp án
  • Hơn 50.000 câu trắc nghiệm Hóa có đáp án chi tiết
  • Gần 40.000 câu trắc nghiệm Vật lý có đáp án
  • Hơn 50.000 câu trắc nghiệm Tiếng Anh có đáp án
  • Kho trắc nghiệm các môn khác
Tin Tức

Kiến thức các dạng toán nâng cao lớp 8 | Banmaynuocnong

11
Kiến thức các dạng toán nâng cao lớp 8 | Banmaynuocnong

Kiến thức nâng cao chia theo các dạng bài tập

Kiến thức Toán 8 được đánh giá là khó trong 4 năm học thuộc cấp Trung học cơ sở. Các em đã quen thuộc và có nền tảng kiến thức ở lớp 6 và 7. Ngoài nắm chắc kiến thức sách giáo khoa, học sinh nên được tiếp cận với các dạng bài tập nâng cao. Một phần để các em nắm chắc hơn kiến thức cơ bản. Phần khác để tìm ra những em có năng khiếu hơn, và chuẩn bị cho các kì thi tìm kiến học sinh giỏi.

Kiến thức nâng cao được chúng tôi biên soạn theo các chuyên đề như sau:

  • Nhân các đa thức
  • Các hằng đẳng thức đáng nhớ
  • Phân tích đa thức thành nhân tử
  • Chia đa thức

Tổng hợp bài tập Toán nâng cao lớp 8

Kiến thức về cơ bản vẫn theo sát chương trình sách giáo khoa. Ở đây chúng tôi có tổng hợp bài tập theo từng phần kiến thức. Việc đó giúp các em khu trú được những gì đã học, không bị dàn trải, dễ liên kết kiến thức với nhau hơn. Việc làm bài tập cùng dạng nhiều lần giúp các em nhuần nhuyễn và rèn kĩ năng tốt. Các bài tập được chọn lọc và chia theo từng chuyên đề. Mức độ được sắp xếp từ dễ đến khó. Điều này tạo được hứng thú và không có tâm lý chán nản khi làm bài. Các em có thể tự ôn luyện ở nhà để củng cố kiến thức không bị quên. Ngoài ra, các thầy cô cũng có thể sử dụng nó trong quá trình ra bài tập hay ôn luyện học sinh giỏi cho họ sinh.

Chúc các em và thầy cô có một năm học nhiều thành công!

Tin Tức

Tổng hợp 100+ Hình ảnh những bài thơ hay đẹp nhất | Banmaynuocnong

13
Tổng hợp 100+ Hình ảnh những bài thơ hay đẹp nhất | Banmaynuocnong

100+ Hình ảnh những bài thơ hay đẹp nhất

Những bài thơ hay nhất đã được làm thành hình ảnh đẹp để các bạn có thể thỏa sức vừa đọc thơ vừa ngắm ảnh. Hãy cùng đến với bộ sưu tập hình ảnh thơ hay và đẹp nhất của banmaynuocnong.com chúng tôi sau đây.

Hình ản h bài thơ Gửi nhớ

Hình ản h bài thơ Gửi nhớ

Hình ảnh bài htơ Đi học đúng giờ

Hình ảnh bài htơ Đi học đúng giờ

Hình ảnh bài thơ Anh nghèo không có mô tô

Hình ảnh bài thơ Anh nghèo không có mô tô

Hình ảnh bài thơ Anh nói rằng anh mến em nhất

Hình ảnh bài thơ Anh nói rằng anh mến em nhất

Hình ảnh bài thơ Bài ca xăng tăng giá

Hình ảnh bài thơ Bài ca xăng tăng giá

Hình ảnh bài thơ Bắp cải xanh

Hình ảnh bài thơ Bắp cải xanh

Hình ảnh bài thơ Bé làm họa sĩ

Hình ảnh bài thơ Bé làm họa sĩ

Hình ảnh bài thơ Bé và ông mặt trời

Hình ảnh bài thơ Bé và ông mặt trời

Hình ảnh bài thơ chẳng dám đọc lại bài thơ

Hình ảnh bài thơ chẳng dám đọc lại bài thơ

Hình ảnh bài thơ chẳng quan trọng ta nói lời yêu thương nhiều hay ít

Hình ảnh bài thơ chẳng quan trọng ta nói lời yêu thương nhiều hay ít

Hình ảnh bài thơ chế Bước tới công viên bóng xế tà

Hình ảnh bài thơ chế Bước tới công viên bóng xế tà

Hình ảnh bài thơ chế hài hước

Hình ảnh bài thơ chế hài hước

Hình ảnh bài thơ chế Trung thu buồn chán bụng đói meo

Hình ảnh bài thơ chế Trung thu buồn chán bụng đói meo

Hình ảnh bài thơ chỉ cần nói một lời thôi em nhé

Hình ảnh bài thơ chỉ cần nói một lời thôi em nhé

Hình ảnh bài thơ Chiều không anh

Hình ảnh bài thơ Chiều không anh

Hình ảnh bài thơ cho bé ngắn dễ thuộc

Hình ảnh bài thơ cho bé ngắn dễ thuộc

Hình ảnh bài thơ chúc mừng năm mới

Hình ảnh bài thơ chúc mừng năm mới

Hình ảnh bài thơ có em

Hình ảnh bài thơ có em

Hình ảnh bài thơ Con voi

Hình ảnh bài thơ Con voi

Hình ảnh bài thơ Cung kính mời nhau chén rượu nồng

Hình ảnh bài thơ Cung kính mời nhau chén rượu nồng

Hình ảnh bài thơ Dán hoa tặng mẹ

Hình ảnh bài thơ Dán hoa tặng mẹ

Hình ảnh bài thơ Đây là một con chim chích

Hình ảnh bài thơ Đây là một con chim chích

Hình ảnh bài thơ Đi nắng

Hình ảnh bài thơ Đi nắng

Hình ảnh bài thơ Đố ai định nghĩa được từ hôn

Hình ảnh bài thơ Đố ai định nghĩa được từ hôn

Hình ảnh bài thơ Đóa hồng tặng em

Hình ảnh bài thơ Đóa hồng tặng em

Hình ảnh bài thơ Đời ngắn lắm hãy rộng lòng tha thứ

Hình ảnh bài thơ Đời ngắn lắm hãy rộng lòng tha thứ

Hình ảnh bài thơ Đơn độc

Hình ảnh bài thơ Đơn độc

Hình ảnh bài thơ Dung dăng dung dẻ

Hình ảnh bài thơ Dung dăng dung dẻ

Hình ảnh bài thơ em cảm ơn thầy bài học hôm nay

Hình ảnh bài thơ em cảm ơn thầy bài học hôm nay

Hình ảnh bài thơ Em làm thợ xây

Hình ảnh bài thơ Em làm thợ xây

Hình ảnh bài thơ Giá như lúc này

Hình ảnh bài thơ Giá như lúc này

Hình ảnh bài thơ Hạnh phúc ở nơi đâu

Hình ảnh bài thơ Hạnh phúc ở nơi đâu

Hình ảnh bài thơ Kéo cưa lừa xẻ

Hình ảnh bài thơ Kéo cưa lừa xẻ

Hình ảnh bài thơ Khói rũ rượu ven trời thoai thoải gió

Hình ảnh bài thơ Khói rũ rượu ven trời thoai thoải gió

Hình ảnh bài thơ Lời chào

Hình ảnh bài thơ Lời chào

Hình ảnh bài thơ Lửa đã tắt làm sao cháy lại

Hình ảnh bài thơ Lửa đã tắt làm sao cháy lại

Hình ảnh bài thơ mai chia tay mình vẫn gọi anh em

Hình ảnh bài thơ mai chia tay mình vẫn gọi anh em

Hình ảnh bài thơ mẹ mang một nắng hai sương

Hình ảnh bài thơ mẹ mang một nắng hai sương

Hình ảnh bài thơ Mẹ và cô

Hình ảnh bài thơ Mẹ và cô

Hình ảnh bài thơ Mơn mởn mai vàng câu đối son

Hình ảnh bài thơ Mơn mởn mai vàng câu đối son

Hình ảnh bài thơ mùa thu của chúng mình

Hình ảnh bài thơ mùa thu của chúng mình

Hình ảnh bài thơ Mùa xuân

Hình ảnh bài thơ Mùa xuân

Hình ảnh bài thơ Mượn

Hình ảnh bài thơ Mượn

Hình ảnh bài thơ Nắng đã lên sao tim vẫn lạnh

Hình ảnh bài thơ Nắng đã lên sao tim vẫn lạnh

Hình ảnh bài thơ ngắn nếu nước mắt xóa nhòa tất cả

Hình ảnh bài thơ ngắn nếu nước mắt xóa nhòa tất cả

Hình ảnh bài thơ Nghiệm của đời anh

Hình ảnh bài thơ Nghiệm của đời anh

Hình ảnh bài thơ nhiều lúc buồn tôi trở nên ít nói

Hình ảnh bài thơ nhiều lúc buồn tôi trở nên ít nói

Hình ảnh bài thơ Nhớ cha mùa thu năm ấy

Hình ảnh bài thơ Nhớ cha mùa thu năm ấy

Hình ảnh bài thơ Những lúc xa em

Hình ảnh bài thơ Những lúc xa em

Hình ảnh bài thơ Nỗi lòng của gió

Hình ảnh bài thơ Nỗi lòng của gió

Hình ảnh bài thơ nói xấu vợ

Hình ảnh bài thơ nói xấu vợ

Hình ảnh bài thơ Nu na nu nống

Hình ảnh bài thơ Nu na nu nống

Hình ảnh bài thơ Ơn thầy

Hình ảnh bài thơ Ơn thầy

Hình ảnh bài thơ Ong và bướm

Hình ảnh bài thơ Ong và bướm

Hình ảnh bài thơ qua đèo ngang

Hình ảnh bài thơ qua đèo ngang

Hình ảnh bài thơ Sóng rì rào hỏi những chuyện đã qua

Hình ảnh bài thơ Sóng rì rào hỏi những chuyện đã qua

Hình ảnh bài thơ tặng em chẳng biết tặng gì

Hình ảnh bài thơ tặng em chẳng biết tặng gì

Hình ảnh bài thơ Taxi

Hình ảnh bài thơ Taxi

Hình ảnh bài thơ Tết tình thân

Hình ảnh bài thơ Tết tình thân

Hình ảnh bài thơ Thăm nhà bà

Hình ảnh bài thơ Thăm nhà bà

Hình ảnh bài thơ Tháng chín nào em đến

Hình ảnh bài thơ Tháng chín nào em đến

Hình ảnh bài thơ Tháng tám này cũng như tháng tám xưa

Hình ảnh bài thơ Tháng tám này cũng như tháng tám xưa

Hình ảnh bài thơ Thơ tình dân nghiền bóng đá

Hình ảnh bài thơ Thơ tình dân nghiền bóng đá

Hình ảnh bài thơ Thoải mái nhất là đi tu

Hình ảnh bài thơ Thoải mái nhất là đi tu

Hình ảnh bài thơ thu đi để lại lá vàng, anh đi để lại cho nàng thằng cu

Hình ảnh bài thơ thu đi để lại lá vàng, anh đi để lại cho nàng thằng cu

Hình ảnh bài thơ thương cha xuôi ngược giữa dòng

Hình ảnh bài thơ thương cha xuôi ngược giữa dòng

Hình ảnh bài thơ Tiêu chuẩn làm vk

Hình ảnh bài thơ Tiêu chuẩn làm vk

Hình ảnh bài thơ tình bạn tựa hồng ân

Hình ảnh bài thơ tình bạn tựa hồng ân

Hình ảnh bài thơ Tình cờ hai chữ vấn vương

Hình ảnh bài thơ Tình cờ hai chữ vấn vương

Hình ảnh bài thơ tình hay nếu đã lăng nhăng thì đừng yêu ai vội

Hình ảnh bài thơ tình hay nếu đã lăng nhăng thì đừng yêu ai vội

Hình ảnh bài thơ Tình mơ

Hình ảnh bài thơ Tình mơ

Hình ảnh bài thơ Tình sầu một thuở

Hình ảnh bài thơ Tình sầu một thuở

Hình ảnh bài thơ Tình yêu đẹp tựa cánh hồng

Hình ảnh bài thơ Tình yêu đẹp tựa cánh hồng

Hình ảnh bài thơ Tình yêu là gì

Hình ảnh bài thơ Tình yêu là gì

Hình ảnh bài thơ Tôi hỏi chú sâu xanh

Hình ảnh bài thơ Tôi hỏi chú sâu xanh

Hình ảnh bài thơ Tránh xa cờ bạc

Hình ảnh bài thơ Tránh xa cờ bạc

Hình ảnh bài thơ trên thế gian này khó cắt đứt nhất là tình cảm

Hình ảnh bài thơ trên thế gian này khó cắt đứt nhất là tình cảm

Hình ảnh bài thơ trời đã về khuya cả nhà ngủ ngon

Hình ảnh bài thơ trời đã về khuya cả nhà ngủ ngon

Hình ảnh bài thơ Trong cơn mơ con biến thành cây bút

Hình ảnh bài thơ Trong cơn mơ con biến thành cây bút

Hình ảnh bài thơ Valentine chẳng có gì hay

Hình ảnh bài thơ Valentine chẳng có gì hay

Hình ảnh bài thơ Vẫn không quên được

Hình ảnh bài thơ Vẫn không quên được

Hình ảnh bài thơ Vàng thu lá úa

Hình ảnh bài thơ Vàng thu lá úa

Hình ảnh bài thơ Yêu mẹ

Hình ảnh bài thơ Yêu mẹ

Hình ảnh bài thơ Yêu thêm của Tố Hữu

Hình ảnh bài thơ Yêu thêm của Tố Hữu

Hình ảnh câu thơ ngắn nghiện ngập có thể cai

Hình ảnh câu thơ ngắn nghiện ngập có thể cai

Hình ảnh Cây dây leo

Hình ảnh Cây dây leo

Hình ảnh chụp bài thơ Nên sống tử tế

Hình ảnh chụp bài thơ Nên sống tử tế

Hình ảnh của bài thơ Tôi yêu em đến nay chừng có thể

Hình ảnh của bài thơ Tôi yêu em đến nay chừng có thể

Hình ảnh Làm bác sĩ

Hình ảnh Làm bác sĩ

Hình ảnh Lộn cầu vồng

Hình ảnh Lộn cầu vồng

Hình ảnh THơ tình cuối mùa thu

Hình ảnh THơ tình cuối mùa thu

Hình ảnh thơ tình không người nhận

Hình ảnh thơ tình không người nhận

Hình ảnh thơ tình về biển lãng mạn

Hình ảnh thơ tình về biển lãng mạn

Hình ảnh Thơ tình yêu chế đêm khuya

Hình ảnh Thơ tình yêu chế đêm khuya

Hình ảnhb ài thơ trăng đã ngủ xin đừng đánh thức

Hình ảnhb ài thơ trăng đã ngủ xin đừng đánh thức

Cảm ơn các bạn đã đọc và theo dõi bài viết 100+ Hình ảnh những bài thơ hay đẹp nhất của banmaynuocnong.com chúng tôi. Chúc các bạn có một ngày tươi đẹp vui vẻ với những chùm thơ này.

Tin Tức

Tổng hợp BARI CACBONAT LÀ GÌ? ĐẶC TÍNH – ĐIỀU CHẾ – ỨNG DỤNG BARI CACBONAT VÀ NƠI MUA HÓA CHẤT BARI CACBONAT TẠI TP HỒ CHÍ MINH.

12
Tổng hợp BARI CACBONAT LÀ GÌ? ĐẶC TÍNH – ĐIỀU CHẾ – ỨNG DỤNG BARI CACBONAT VÀ NƠI MUA HÓA CHẤT BARI CACBONAT TẠI TP HỒ CHÍ MINH.

BARI CACBONAT là gì? BaCO3 là gì? BARI CACBONAT có cấu tạo phân tử như thế nào? Những tính chất lý hóa nào đặc trưng cho hóa chất BARI CACBONAT? BARI CACBONAT được điều chế như thế nào và những ứng dụng nổi bật của BARI CACBONAT trong công nghiệp? Nơi nào tại TP Hồ Chí Minh cung cấp hóa chất BARI CACBONAT này?

BARI CACBONAT là một trong những hóa chất rất quan trọng trong công nghiệp vì vậy việc tìm hiểu về hóa chất này là vô cùng cần thiết. Chính vì lý do đó nên công ty Trung Sơn chúng tôi xin giới thiệu với bạn một bài viết mới với chủ đề đó là BARI CACBONAT là gì?

BARI CACBONAT LÀ GÌ? CẤU TẠO PHÂN TỬ CỦA BARI CACBONAT

Bari Cacbonat là gì?

BARI CACBONAT là gì? BaCO3 là gì?
BARI CACBONAT là gì? BaCO3 là gì?

Bari Cacbonat là một hợp chất của muối bari với công thức hóa học là BaCO3. Đây là hợp chất dạng tinh thể màu trắng và có tính nguy hiểm dù được ứng dụng rất nhiều trong công nghiệp.

Bạn có thể tìm thấy Bari Cacbonat dưới dạng khoáng vật BaCO3 trong tự nhiên và Bari Cacbonat là một trong những thành phần của bả chuột và gốm sứ.

Bari Cacbonat (BaCO3) khi tác dụng với các chất tương ứng sẽ tạo ra kết tủa màu Trắng.

Cấu tạo phân tử của Bari Cacbonat?

Cấu tạo phân tử của Bari Cacbonat?
Cấu tạo phân tử của Bari Cacbonat?

ĐẶC TÍNH CỦA BARI CACBONAT

ĐẶC TÍNH CỦA BARI CACBONAT
ĐẶC TÍNH CỦA BARI CACBONAT

BaCO3 ở dạng tinh thể màu trắng, không mùi và tan tốt trong axit, nước nhưng không tan được trong Ethanol.

BaCO3 có khối lượng mol là 197,34 g/mol.

BaCO3 có khối lượng riêng là 4,286 g/cm3.

BaCO3 điểm nóng chảy là 811 °C (1.084 K; 1.492 °F)

BaCO3 có điểm sôi là 1.450 °C (1.720 K; 2.640 °F)

BaCO3 có độ hòa tan trong nước là 16 mg/L (8.8°C), 22 mg/L (18 °C), 24 mg/L (20 °C), 24 mg/L (24,2 °C).

Các phản ứng có sự tồn tại của hóa chất này là:

BaCO3 tác dụng với axit clohydric để tạo thành các muối bari tan, như bari clorua:

    • BaCO3 + 2 HCl → BaCl2 + CO2 + H2O.
    • 2CH3COOH + BaCO3 ⟶ H2O + CO2 + (CH3COO)2Ba.

BaCO3 bị nhiệt độ từ 1000 – 1450 độ C cao phân hủy thành BaO và giải phóng khí CO2

    • BaCO3 ⟶ BaO + CO2

ĐIỀU CHẾ BARI CACBONAT

ĐIỀU CHẾ BARI CACBONAT
ĐIỀU CHẾ BARI CACBONAT

Điều chế Bari Cacbonat trong công nghiệp bằng phương pháp Soda

Hợp chất được điều chế trong công nghiệp từ Bari Sulfua bằng cách xử lý với Natri cacbonat hoặc kali cacbonat ở nhiệt độ 60-70°C.

    • K2CO3 + BaS ⟶ K2S + BaCO3
    • NACO3 + BaS → NaS + BaCO3

Hiện tượng: Xuất hiện kết tủa trắng bari cacbonat (BaCO3) trong dung dịch.

Ngoài ra, Bari Cacbonat còn được điều chế bằng rất nhiều phản ứng như

    • Ca(OH)2 + Ba(HCO3)2 ⟶ CaCO3 + 2H2O + BaCO3.
    • (NH4)2CO3 + BaCl2 ⟶ 2NH4Cl + BaCO3.
    • BaCl2 + K2CO3 ⟶ 2KCl + BaCO3.
    • K2CO3 + Ba(HCO3)2 ⟶ BaCO3 + 2KHCO3.

ỨNG DỤNG BARI CACBONAT

BaCO3 được ứng dụng trong công nghệ làm gốm sứ.

BaCO3 được ứng dụng trong công nghệ làm gốm sứ.
BaCO3 được ứng dụng trong công nghệ làm gốm sứ.

Bari cacbonat được sử dụng như một chất trợ chảy, một chất làm kết dính và kết tinh và kết hợp với các oxit màu nhất định để tạo ra màu sắc độc đáo không dễ dàng có thể đạt được bằng các phương tiện khác.

Bari cacbon được thêm vào đất sét khi tiến hành sản xuất gạch, gối, … để kết tủa các muối hòa tan (canxi sulfat và magie sulfat) là những chất tạo ra hiện tượng nở hoa.

BaCO3 được ứng dụng trong việc sản xuất thuốc diệt chuột

BaCO3 được ứng dụng trong việc sản xuất thuốc diệt chuột
BaCO3 được ứng dụng trong việc sản xuất thuốc diệt chuột

Độc tính và liều gây chết trung bình đối với chuột đó là 800mg/kg.

Ngoài ra, hợp chất còn được sử dụng chủ yếu trong vật liệu từ tính, điện tử, thép và các thuốc thử.

TÍNH CHẤT NGUY HIỂM CỦA BaCO3

Bari cacbonat là thành phần gây ngộ độc mãn tính chủ yếu tích lũy trong xương. Ngộ độc cấp tính nặng sẽ gây ra các biểu hiện về tiêu hóa, phản xạ gân, co giật, liệt cơ.

Nồng độ tối đa của 0.5mg/m3.

Vì vậy, khi sử dụng cần có biện pháp phòng ngừa.

NƠI MUA HÓA CHẤT BARI CACBONAT TẠI TP HỒ CHÍ MINH.

NƠI MUA HÓA CHẤT BARI CACBONAT TẠI TP HỒ CHÍ MINH.
NƠI MUA HÓA CHẤT BARI CACBONAT TẠI TP HỒ CHÍ MINH.

Chúng ta không thể phủ nhận được những công dụng của hóa chất Bari Cacbonat khi ứng dụng trong các ngành công nghiệp chuyên dụng. Chính vì lý do này nên hóa chất này được bán khá chạy. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều nơi phân phối hóa chất này, trong đó có Công ty Công Nghệ Trung Sơn – nơi uy tín và chất lượng hàng đầu về cung cấp hóa chất thí nghiệm – cung cấp BARI CACBONAT an toàn và giá cả phù hợp nhu cầu.

Công ty Trung Sơn không chỉ đem đến sự chất lượng mà còn có nhiều hơn thế như đội ngũ nhân viên tư vấn nhiệt tình, báo giá nhanh chóng và vận chuyển tốc độ. Hãy đến với Trung Sơn nếu bạn có nhu cầu mua hóa chất BARI CACBONAT.

Trên đây là những thông tin cần thiết cần phải biết về BARI CACBONAT như BARI CACBONAT là gì? BaCO3 là gì? BARI CACBONAT có cấu tạo phân tử như thế nào? Những tính chất lý hóa nào đặc trưng cho hóa chất BARI CACBONAT? BARI CACBONAT được điều chế như thế nào và những ứng dụng nổi bật của BARI CACBONAT trong công nghiệp? Hy vọng có thể giúp ích được cho bạn.

Nếu có bất kỳ điều gì không hiểu về bài viết này, xin hãy để lại bình luận bên dưới để được hỗ trợ nhanh nhất.

Hotline: (028) 3811 9991

Tin Tức

Kiến thức tom tat hoi trong co thanh | Banmaynuocnong

15
Kiến thức tom tat hoi trong co thanh | Banmaynuocnong

Tóm tắt văn bản Hồi trống Cổ Thành (trích Tam Quốc diễn nghĩa) của La Quán Trung

“Hồi trống cổ Thành” được trích trong tập “Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung. Mời các bạn tham khảo các bài văn mẫu Tóm tắt văn bản Hồi trống Cổ Thành (trích Tam Quốc diễn nghĩa) của La Quán Trung dưới đây để hiểu hơn về tác phẩm này, biết cách soạn văn 10 và phân tích tác phẩm Hồi trống Cổ Thành.

Tóm tắt tác phẩm Hồi trống cổ Thành – Bài làm 1

Đoạn trích Hồi trống Cổ Thành thuộc hồi 28. Quan Công đưa hai chị sang Nhữ Nam. Kéo quân đến Cổ Thành thì nghe nói Trương Phi đang ở đó. Quan Công mừng rỡ sai Tôn Càn vào thành báo Trương Phi ra đón hai chị.

Trương Phi khi ấy đang tức giận, nghe tin báo liền sai quân lính mở cổng thành, rồi một mình một ngựa vác bát xà mâu lao đến đòi giết Quan Công. Quan Công bị bất ngờ nhưng rất may tránh kịp nên không mất mạng. Đang nóng giận, Trương Phi nhất quyết không chịu ghi nhận lòng trung của Quan Công dù cả hai vị phu nhân đã hết lời thanh minh sự thật.

Giữa lúc đang bối rối thì đột nhiên ở đằng xa, Sái Dương mang quân Tào đuổi tới. Trương Phi càng thêm tức giận, buộc Vân Trường phải lấy đầu ngay tên tướng đó để chứng thực lòng trung. Quan Công không nói một lời, múa long đao xô lại. Chưa đứt một hồi trống giục, đầu Sái Dương đã lăn dưới đất. Bấy giờ, Phi mới tin anh là thực. Phi mời hai chị vào thành rồi cúi đầu sụp lạy xin lỗi Quan Công.

Tóm tắt tác phẩm Hồi trống cổ Thành – Bài làm 2

Biết tin anh là Lưu Bị ở Hà Bắc trên đất Viên Thiệu, Quan Vũ đưa 2 chị (vợ của Lưu Bị) đi tìm anh. Tào Tháo tránh không tiếp Quan Vũ đến từ biệt vì muốn lưu giữ Quan Vũ để dùng. Tháo không cấp giấy qua ải, nhưng cũng không cho tướng đuổi bắt. Các tướng vẫn không cho Quan Vũ qua ải. Quan Vũ phải mở đường máu mà đi.

Qua ải Đông Lĩnh chém Khổng Tú.

Đến ải Lạc Dương chém Hán Phúc và Mạnh Thầu.

Qua Nghi Thủy giết Biện Hỷ.

Vượt ải Huỳnh Dương chém Vương Thực.

Đến bờ Hoàng Hà giết Tân Kì.

Đến Cổ Thành, Quan Vũ ngỡ là gặp được em xiết bao vui mừng, ai ngờ Trương Phi “mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò thét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công”. Bất ngờ, Sái Dương lại kéo quân đến bắt Quan Vũ. Phi càng nghi ngờ… Chỉ đến lúc đầu Sái Dương bị Quan Vũ chém đứt, Phi mới đánh được hồi trống, Phi mới nguôi giận dần. Và chỉ sau khi nghe tên lính kể đầu đuôi mọi chuyện… Phi mới tin, “rỏ nước mắt khóc, thụp lạy Vân Trường”.

Tóm tắt tác phẩm Hồi trống cổ Thành

Tóm tắt tác phẩm Hồi trống cổ Thành – Bài làm 3

“Hồi trống Cổ Thành” được trích ở hồi 28 “Chém Sái Dương anh em hòa giải. Hồi Cổ Thành tôi chúa đoàn viên”.

Ở đoạn trích này, để minh oan cho mình, xua tan mối nghi ngờ, sự hiểu lầm của Trương Phi, Quan Công đã nhận ngay điều kiện mà Trương Phi đã đưa ra: Phải lấy đầu Sái Dương trong ba hồi trống. Không đợi đến hồi thứ ba, chỉ mới xong hồi trống thứ nhất, đầu Sái Dương đã lăn lóc dưới đất. Sở dĩ Quan Công hành động gấp như vậy là vì ông muốn tỏ rõ ngay tấm lòng trung thực của ông, để giải quyết ngay sự hiểu lầm của Trương Phi. Riêng Trương Phi, vì nghĩ rằng Quan Công ở với Tào Tháo mà Tào Tháo là giặc, nên Quan Công bội nghĩa. Khi nghe Tôn Càn báo tin Vân Trường đưa phu nhân từ Hứa Đô đến, Trương Phi nóng nảy định giết Quan Công. Cho đến khi thấy Quan Công lấy đầu Sái Dương (viên tướng của Tào Tháo), và nghe lời kể của một tên lính Tào Tháo thì Trương Phi mới hiểu được lòng dạ trung thực của Quan Công và nhất là khi nghe những việc Quan Công đã trải qua, Trương Phi đã rỏ nước mắt khóc, sụp xuống lạy Vân Trường.

Tóm tắt tác phẩm Hồi trống cổ Thành – Bài làm 4

Sau thất thủ Từ Châu, ba anh em kết nghĩa Lưu – Quan – Trương phiêu bạt mỗi người một nơi. Quan Vũ túng thế đành phải tạm náu nhờ đất Tào Tháo với điều kiện hàng Hán chứ không hàng Tào, hễ biết tin anh ở đâu là sẽ đi ngay. Ngay khi nghe tin Lưu Bị đang ở với Viên Thiệu, Quan Vũ rời bỏ đất Tào, vượt qua năm cửa ai, chém sáu tướng Tào cản đường, hộ tống hai chị dâu trở về. Trên đường đi, Quan Vũ gặp Trương Phi ở Cổ Thành. Quan Vũ hết sức mừng rỡ khi gặp lại người em kết nghĩa, nhưng không may, Trương Phi nghe tin Quan Công theo Tào phản bội an hem nên đem quân ra cửa Bắc “hỏi tội” Vân Trường. Mặc cho sự can ngăn của hai chị dâu, Trương Phi vẫn không dẹp bỏ mối nghi ngờ với Quan Công, thậm chí còn quát mắng, kể tội thậm chí múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công. May thay Quan Công tránh kịp mũi mâu. Sau quá trình đối chất căng thẳng, Trương Phi càng nóng nảy. Mãi cho tới khi thấy quân Sái Dương đuổi theo Quan Công để trả thù việc giết Tần Kì, rồi nghe được tên lính cầm cờ hiệu kể lại đầu đuôi nông nỗi, Trương Phi mới tin anh mình, rỏ nước mắt khóc, thụp lạy anh.

Tóm tắt tác phẩm Hồi trống cổ Thành – Bài làm 5

Quan Công dẫn hai chị chạy đến Cổ Thành thì nghe nói Trương Phi đang ở đó. Ông mừng rỡ sai Tôn Càn vào thành báo tin cho Trương Phi ra đón. Nghe tin báo, Trương Phi lập tức mặc áo giáp, vác mâu lên ngựa, dẫn nghìn quân, đi tắt ra cửa Bắc. Gặp Trương Phi, Quan Công vô cùng mừng rỡ. Nhưng Trương Phi nghi ngờ Quan Công đã hàng Tào, bội nghĩa vườn đào nên vác mâu xông tới đâm Quan Công mặc cho Quan Công và hai vị phu nhân hết lời thanh minh. Giữa lúc đang bối rối thì đột nhiên ở đằng xa, Sái Dương mang quân Tào đuổi tới khiến Trương Phi càng thêm tức giận, buộc Quan Công phải lấy đầu ngay tên tướng đó để chứng thực lòng trung. Chưa dứt một hồi trống giục, đầu Sái Dương đã lăn dưới đất. Lúc này, Trương Phi mới tin lời Quan Công. Trương Phi mời hai chị vào thành rồi cúi đầu sụp lạy xin lỗi Quan Công.

Tóm tắt tác phẩm Hồi trống cổ Thành – Bài làm 6

“Hồi trống Cổ Thành” được trích ở hồi 28 – Tam quốc diễn nghĩa. là đoạn trích kể về việc Quan Công minh oan cho mình, xua tan mối nghi ngờ, sự hiểu lầm của Trương Phi. Khi nghe tin Lưu Bị đang ở bên Viên Thiệu, Quan Công liền lập tức đưa hai chị lên đường, đến Cổ Thành nghe tin Trương Phi đang ở đây thì hết sức vui mừng, nào ngờ Trương Phi lại hiểu lầm anh Hai đã hàng Tào. Khi nghe Tôn Càn báo tin Vân Trường đưa phu nhân từ Hứa Đô đến, Trương Phi nóng nảy định giết Quan Công. Bấy giờ, do giết cháu ngoại tướng Sái Dương của Tào lên bị hắn đem quấn đuổi tới. Và Quan Công đã chấp nhận điều kiện mà Trương Phi đã đưa ra: “Phải lấy đầu Sái Dương trong ba hồi trống”. Không đợi đến hồi thứ ba, chỉ mới xong hồi trống thứ nhất, đầu Sái Dương đã lăn lóc dưới đất. Sau đó lại nghe lời kể của một tên lính Tào Tháo thì Trương Phi mới hiểu được lòng dạ trung thực của Quan Công và nhất là khi nghe những việc Quan Công đã trải qua, Trương Phi đã rỏ nước mắt khóc, sụp xuống lạy anh Hai.

Tóm tắt tác phẩm Hồi trống cổ Thành – Bài làm 7

Hồi trống Cổ Thành thuộc hồi 28 – Tam quốc diễn nghĩa. Quan Công đưa hai chị dâu sang Nhữ Nam. Đến Cổ Thành thì nghe nói Trương Phi đang ở đó thì mừng rỡ sai Tôn Càn vào thành báo Trương Phi ra đón hai chị.

Trương Phi khi ấy đang tức giận vì hiểu lầm Quan Công hàng Tào, nghe tin báo liền mặc áo giáp, vác mâu và dẫn 1000 quân lính ra cổng thành. Vừa tới gần bèn múa xà mâu lao đến đòi giết Quan Công. Quan Công bị bất ngờ nhưng rất may tránh kịp nên không mất mạng. Đang nóng giận, Trương Phi nhất quyết không chịu ghi nhận lòng trung của Quan Công dù cả hai chị dâu đã hết lời thanh minh sự thật.

Đột nhiên ở đằng xa, Sái Dương mang quân Tào đuổi tới. Trương Phi càng thêm tức giận, buộc Vân Trường phải lấy đầu ngay tên tướng đó trong ba hồi trống để chứng thực lòng trung. Quan Công không nói một lời, múa long đao xô lại. Chưa đứt một hồi trống giục, đầu Sái Dương đã lăn dưới đất. Bấy giờ, Phi mới tin anh là thực. Phi mời hai chị vào thành, nghe kể lại những việc anh Hai đã làm bèn cúi đầu sụp lạy xin lỗi.

Tóm tắt tác phẩm Hồi trống cổ Thành – Bài làm 8

Quan Công trúng kế của Tào Tháo, dẫn quân ra ngoài thành Hạ Bì nên bị thất thủ. Ba anh em Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi lạc nhau mỗi người một nơi. Khi Quan Công bị quân Tào bắt, Trương Liêu, một viên tướng của Tào Tháo là bạn của Quan Công thời trẻ đã đến thuyết phục Quan Công về với Tào Tháo. Quan Công ra ba điều kiện trong đó có một điều kiện là hễ nghe tin Lưu bị ở đâu thì phải để cho Quan Công về ngay với anh. Khi nghe tin Lưu Bị sống ở bên Viên Thiệu, Quan Công đã vượt qua năm cửa ải, chém sáu tướng, đưa hai chị dâu về với Lưu Bị. Trên đường về, đến Cổ Thành, gặp Trương Phi và xung đột đã xảy ra do hiểu lầm Quan Công hàng Tào Tháo. Cho đến khi Quan Công lấy đầu viên tướng của Tào Tháo là Sái Dương, và nghe kể lại mọi chuyện từ tên lính Tào thì Trương Phi mới hiểu được lòng dạ của Quan Công.

Tóm tắt tác phẩm Hồi trống cổ Thành – Bài làm 9

Đoạn trích Hồi trống Cổ Thành thuộc hồi 28. Quan Công đưa hai chị dâu sang Nhữ Nam, kéo quân đến Cổ Thành gặp được Trương Phi. Nào ngờ, việc Quan Công hàng Tào Tháo bị Trương Phi hiểu lầm là bội nghĩa, đòi giết Quan Công. Để xua tan mối nghi ngờ, Quan Công đã nhận ngay điều kiện Trương Phi đưa ra : Phải lấy đầu Sái Dương (viên tướng của Tào Tháo) trong ba hồi trống. Chưa đứt một hồi, đầu Sái Dương đã lăn dưới đất. Bấy giờ, Phi mới hiểu được lòng dạ trung thực của Quan Công, rỏ nước mắt khóc, thụp lạy Quan Công.

Tóm tắt văn bản Hồi trống Cổ Thành (trích Tam Quốc diễn nghĩa) của La Quán Trung được VnDoc chia sẻ trên đây sẽ là tài liệu hữu ích cho các bạn học sinh ôn tập, rèn luyện chuẩn bị tốt cho bài giảng sắp tới. Chúc các bạn học tốt

  • Soạn bài lớp 10: Hồi trống cổ thành
  • Soạn văn 10 bài: Hồi trống Cổ Thành
  • Tóm tắt tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ
  • Tóm tắt tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du
  • Soạn bài lớp 10: Hồi trống cổ thành
  • Giáo án Ngữ văn lớp 10 bài Hồi trống Cổ Thành
  • Soạn bài Hồi trống Cổ Thành (La Quán Trung) siêu ngắn

…………………………………..

Ngoài Tóm tắt văn bản Hồi trống Cổ Thành (trích Tam Quốc diễn nghĩa) của La Quán Trung. Mời các bạn học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 1 lớp 10, đề thi học kì 2 lớp 10 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với tài liệu lớp 10 này giúp các bạn rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn. Chúc các bạn ôn thi tốt

Tin Tức

Kiến thức đáng nhớ trong ngày khai trường đầu tiên của mình

13
Kiến thức đáng nhớ trong ngày khai trường đầu tiên của mình

Trong những năm tháng học trò, ngày khai trường luôn chứa đựng rất nhiều kỉ niệm đẹp đẽ. Bài văn mẫu lớp 7: Kể về kỉ niệm đáng nhớ nhất trong ngày khai trường, là một tài liệu hữu ích giúp cho học sinh khi làm bài văn kể về kỉ niệm đáng nhớ trường.

Tài liệu được chúng tôi đăng tải dưới đây bao gồm dàn ý chi tiết và 10 bài văn mẫu lớp 7 vô cùng hữu ích. Mời các bạn học sinh cùng tham khảo.

Dàn ý kỉ niệm đáng nhớ nhất trong ngày khai trường

1. Mở bài

Giới thiệu kỉ niệm về ngày khai trường mà em sẽ kể.

2. Thân bài

– Trước khi đến trường:

  • Tâm trạng nôn nao, háo hức lạ thường.
  • Chuẩn bị đầy đủ sách vở, quần áo mới…

– Lúc đến trường:

  • Tung tăng đi bên cạnh mẹ, nhìn cái gì cũng thấy đẹp đẽ, đáng yêu (bầu trời, mặt đất, con đường, cây cối, chim muông… )
  • Thấy ngôi trường thật to lớn, còn mình thì quá nhỏ bé.
  • Ngại ngùng trước chỗ đông người.
  • Được mẹ động viên nên mạnh dạn hơn đôi chút.

– Lúc dự lễ khai trường:

  • Lần đầu tiên trong đời, em được dự một buổi lễ trang nghiêm như thế.
  • Thấy ngỡ ngàng và lạ lùng.
  • Vui và tự hào vì mình đã là học sinh lớp Một.
  • Rụt rè làm quen với các bạn mới.

3. Kết bài

Cảm xúc của em: Hân hoan, háo hức và vô cùng hạnh phúc…

Kỉ niệm đáng nhớ nhất trong ngày khai trường – Mẫu 1

Giờ đây tôi đã là một học sinh lớp bảy của mái trường Trung học cơ sở thân yêu. Nhưng tôi vẫn còn nhớ như in những kỉ niệm của ngày tựu trường đầu tiên.

Đó là một buổi sáng mùa thu thật đẹp. Bầu trời cao vợi và xanh thẳm. Mẹ đưa tôi đến trường bằng chiếc xe đạp đã cũ. Hôm nay, tôi sẽ dự lễ khai giảng đầu tiên. Con đường đi học đã quen thuộc, nhưng tôi lại cảm thấy xôn xao, bồi hồi.

Cuối cùng cánh cổng trường cấp một cũng hiện ra trước mắt tôi. Tôi ngạc nhiên nhìn ngôi trường hôm nay thật khác. Các anh chị học sinh lớp lớn hân hoan bước vào trường. Tôi được mẹ dắt vào hàng ghế của khối lớp một. Xung quanh, bố mẹ của các bạn khẽ thì thầm trò chuyện với con mình. Cô giáo chủ nhiệm lần lượt đưa chúng tôi vào vị trí ngồi của mình. Hôm nay, cô thật xinh đẹp trong bộ áo dài thướt tha. Nụ cười của cô khiến tôi cảm thấy thật ấm áp. Buổi lễ khai giảng diễn ra thật long trọng. Tôi cảm thấy vui vẻ và tự hào vì mình đã là học sinh lớp Một. Lời phát biểu của cô hiệu trưởng đã kết thúc buổi lễ. Tiếng trống vang lên như một lời chào mừng năm học mới đã đến.

Buổi lễ khai giảng đã để lại cho tôi một kỉ niệm đẹp không thể nào quên. Những cảm xúc trong sáng, hồn nhiên ấy, tôi luôn để nó trong một góc của trái tim mình, để luôn nhớ về nó. Ngày đầu tiên đi học.

Kỉ niệm đáng nhớ nhất trong ngày khai trường – Mẫu 2

Đến bây giờ, khi đã là một cô học sinh lớp bảy. Nhưng em vẫn còn nhớ mãi kỉ niệm về buổi lễ khai trường đầu tiên khi còn là học sinh lớp một.

Tối hôm trước ngày khai giảng, em cảm thấy thật háo hức. Một điều gì đó lạ rất lạ đang diễn ra trong ngôi nhà nhỏ của mình. Mẹ bận bịu chuẩn bị quần áo, sách vở cho em. Bà nội khi nhìn thấy em mặc bộ đồng phục mới đã khen ngợi: “Cháu bà lớn rồi, trông chững chạc ghê! Ngày mai, cháu đã là học sinh lớp Một! Cố học cho thật giỏi, cháu nhé!”. Bố lại đang ở ngoài sân lau chiếc xe máy cũ kĩ để mai đưa em đến trường.

Ngôi trường Tiểu học (tên trường) chỉ cách nhà khoảng cây số mà sao em cảm thấy xa ghê. Trước cổng trường là tấm băng rôn đỏ nổi bật dòng chữ vàng tươi: Chào mừng năm học mới 20… – 20… Hai hàng cờ đuôi nheo đủ màu phất phới trong gió sớm trông giống như những bàn tay xinh xinh đang vẫy vẫy. Niềm vui tràn ngập nơi nơi, từ bầu trời trong xanh, từ màu nắng tinh khôi, từ tiếng chim líu lo trong vòm lá lóng lánh sương thu từ những gương mặt trẻ thơ ngời ngời hạnh phúc và tin tưởng. Trong sân trường, người đông như hội. Các bạn trai tỏ ra mạnh dạn hơn. Các bạn gái ngại ngùng quấn bên chân mẹ, chẳng nỡ rời. Em cũng vậy. Nhìn ngôi trường ba tầng rộng lớn, em cảm thấy mình nhỏ bé làm sao! Mẹ khuyên em hãy bình tĩnh, vui vẻ và tập làm quen với chỗ đông người. Tuy đã rất cố gắng nhưng tim em vẫn đập thình thịch pha lẫn cảm xúc rất khó tả.

Một hồi trống vang lên giòn giã. Lễ khai giảng sắp bắt đầu. Các anh chị học sinh lớp lớn khăn quàng đỏ thắm trên vai đã xếp hàng ngay ngắn. Phụ huynh trao con cho các thầy cô giáo chủ nhiệm lớp Một. Đây đó nổi lên tiếng khóc thút thít, tiếng gọi mẹ nho nhỏ. Em không khóc nhưng nước mắt cũng rơm rớm quanh mi. Một nỗi xúc động khó tả dâng lên trong lòng. Em bịn rịn rời tay mẹ, cùng các bạn xếp hàng theo lớp.

Buổi khai giảng đầu tiên trong đời học sinh mới long trọng và trang nghiêm làm sao! Tiếng trống trường thôi thúc, náo nức lòng người. Lá cờ Tổ quốc bay phần phật trên đỉnh cột. Giáo viên và học sinh đứng nghiêm, mắt hướng về lá quốc kỳ. Tiếng quốc ca vang vang trên sân trường rực nắng. Cô hiệu trưởng đọc lời khai giảng năm học. Sau đó cô dặn dò, khuyên nhủ chúng em nhiều điều. Cô chúc chúng em học tập ngày càng tiến bộ. Buổi lễ kết thúc, chúng em theo cô Hồng về nhận lớp. Lớp 1A gồm bốn chục học sinh. Em rất vui khi gặp lại Sơn và Hải, hai bạn học chung ở trường Mẫu giáo Sơn Ca. Chỉ một lúc sau, em đã biết tên các bạn ngồi cùng bàn là Hoa, Tâm và Ngọc. Những câu chào hỏi rụt rè làm quen cùng những ánh mắt bỡ ngỡ thật dễ thương!

Tan học, mẹ đã đợi sẵn ở cổng trường. Ríu rít như chú chim non, em kể cho mẹ nghe những chuyện về buổi khai trường, cho đến bây giờ, những hình ảnh ấy vẫn hiện lên nguyên vẹn trước mắt em. Nó đã trở thành kỉ niệm đẹp đẽ không thể nào quên của thời thơ ấu.

Kỉ niệm đáng nhớ nhất trong ngày khai trường – Mẫu 3

Ngày bước vào ngôi trường tiểu học lần đầu tiên là một kí ức đẹp trong em. Buổi sáng cuối thu hôm ấy, mẹ chở em đến trường. Mẹ dặn dò, động viên em rất nhiều nên em cũng bớt lo lắng đôi chút.

Cảm giác háo hức, hồi hộp xen lẫn lo lắng vẫn còn in lại rất rõ rệt. Mẹ thấy em vui vẻ như vậy nên rất vui. Mẹ kể cho em nhiều thứ lắm, nhất là lần đầu mẹ đến trường giống em bây giờ. Mẹ bảo rằng khi ấy mẹ rất lo sợ nhưng khi vào trường thì cứ như một thế giới mới vừa chào đón mẹ vậy. Em im lặng lắng nghe kỹ từng chút. Lâu lâu, em cất tiếng hỏi những thắc mắc mà chỉ có cái lứa tuổi đó mới có thể nghĩ ra được. Nào là “Mẹ ơi, cô giáo có dữ không? Cô giáo có đánh con hay các bạn có ăn hiếp con không?”. Mẹ chỉ mỉm cười trước những câu hỏi ngây ngô của em. Khi mẹ bảo rằng sắp đến trường rồi, tim em bỗng đập nhanh hơn bình thường. Em ôm chặt lấy mẹ, rúc đầu vào tấm lưng người như sợ bị ai đánh.

Mẹ cứ mỉm cười, thì thầm câu hát: “Ngày đầu tiên đi học, mẹ dắt em đến trường. Em vừa đi vừa khóc, mẹ dỗ dành yêu thương”. Mẹ nói với em rằng: “Con ơi, đừng lo sợ gì cả. Bước qua cánh cổng này, một thế giới mới hoàn toàn thuộc về con rồi đó. Nơi đây, con sẽ gặp được nhiều bạn mới, thầy cô mới. Con sẽ học được rất nhiều kiến thức hay, những bài học ý nghĩa trong cuộc sống. Hãy cho mẹ thấy con đã lớn và có thể bước đi bằng đôi chân của chính mình nào bé yêu. Mẹ tin con sẽ làm được tất cả”. Nghe xong, em vội quẹt đi nước mắt, nở một nụ cười thật tươi với mẹ. Mẹ hài lòng nắm tay em đi tới cổng trường. Sau đó, mẹ hôn em một cái rồi buông lỏng tay của mình.

Nhớ lại những câu nói lúc nãy, em lấy hết can đảm bước vào ngôi trường mới với câu nói: “Mẹ tin con sẽ làm được tất cả” cứ văng vẳng bên tai. Đó là kỉ niệm đáng nhớ nhất trong ngày khai trường của em.

Kỉ niệm đáng nhớ nhất trong ngày khai trường – Mẫu 4

Cứ mỗi lần thấy bàng thay lá trong lòng tôi lại bồi hồi, náo nức như trở về ngày đầu tiên tôi cắp sách tới trường. Buổi sáng hôm ấy một buổi sáng đầu thu trong xanh và mát mẻ, tôi ngồi sau tấm lưng tần tảo của mẹ, háo hức muốn nhìn thấy trường mới.

Cánh cổng sắt của trường đang mở rộng, cánh cửa sẽ chào đón tôi suốt năm năm học nữa. Nhìn các anh chị lớp trên nô đùa, chạy nhảy, tôi bỗng thấy lo lắng, rụt rè không muốn vào trường, trường mới không giống như trường mẫu giáo, to hơn và rộng hơn nhiều khiến tôi thấy mình thật nhỏ bé. Nép sau lưng mẹ, thấy các bạn khác đang chạy vào trường, tôi bỗng òa khóc. Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu vì sao mình khóc: Vì làm nũng mẹ, vì sợ hay vì tủi thân? Mẹ dịu dàng vuốt tóc tôi, bàn tay lam lũ chai sạn lau nước mắt cho tôi. Đôi mắt tràn đầy yêu thương của mẹ long lanh, mẹ ôm chắc tôi vào lòng, xoa lưng cho tôi, dỗ tôi nín khóc. Tôi còn nhớ giọng nghẹn ngào của mẹ: “Con của mẹ khóc nhè xấu lắm. Cô giáo xinh xắn sẽ dạy con đọc truyện cổ tích, các bạn sẽ cùng chơi ô ăn quan, xỉa cá mè. Con sẽ được khám phá bao điều hay. Nín khóc đi bé con của mẹ, mẹ đưa con vào lớp, nhé!”

Sau đó, một cô giáo nhìn rất hiền dịu bước đến. Cô mặc áo dài và mái tóc đen tuyền ngang vai, nhìn cô thật là đẹp. Cô nhẹ nhàng đến gần tôi và nói: “Để cô dẫn con vào lớp nhé! Hôm nay là ngày vào lớp 1 đầu tiên của con, con cố gắng học tập nhé” – Cô nhẹ nhàng nói với tôi. Sau đó, cô đưa tôi vào bàn học của mình. Tôi nhìn xung quanh thấy các bạn nhỏ xung quanh mình và tôi không còn sợ sệt nữa. Cô đứng lên chào cả lớp và giới thiệu tên của cô: “Cô là cô Hằng, cô rất vui vì hôm nay được gặp các em. Kể từ hôm nay, cô sẽ là cô giáo chủ nhiệm của lớp mình, cả lớp hãy cùng cố gắng học tập thật tốt nhé!”. Một cảm giác vui vẻ tràn đến bên tôi. Tôi không sợ hãi nữa mà thấy mình như chững chạc, lớn hẳn lên vậy. Tôi khoanh tay lên bàn, mở quyển vở và lấy chiếc bút chì chuẩn bị viết bài, lắng nghe cô giảng bài.

Hồi ấy còn nhỏ, tôi không hiểu hết lời nói của mẹ. Khi lớn lên, tôi mới biết đằng sau nụ cười khích lệ tôi kia, mẹ đang cố giấu đi những lo lắng. Ngày khai trường vào lớp một ấy, lúc nào nhìn qua cửa lớp tôi vẫn thấy mẹ đứng đó như để truyền thêm can đảm cho tôi. Ngưỡng cửa bước vào thế giới tri thức, có mẹ dẫn dắt tôi, có ánh mắt, có cái ôm và có cả tình thương bao la mẹ dành cho tôi, kỷ niệm đáng nhớ nhất trong ngày khai trường đầu tiên.

Kỉ niệm đáng nhớ nhất trong ngày khai trường – Mẫu 5

Trong kí ức tuổi học sinh của mình, kỉ niệm sâu đậm nhất đối với tôi có lẽ đó chính là ngày khai trường đầu tiên. Ngày khai trường ấy dù cách đây nhiều năm rồi nhưng mỗi khi nhớ lại tôi vẫn nhớ rõ từng sự kiện, từng cảm xúc của tôi. Có lẽ bởi đó chính là lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với một môi trường hoàn toàn mới mẻ ngoài gia đình và người thân của mình, nên không tránh khỏi những cảm xúc lo lắng, bồi hồi. Lạ lẫm với tất cả mọi thứ, lo lắng với những thứ mới lạ xung quanh mình, đó là những cảm giác mà tôi sẽ không bao giờ quên được.

Trước khi bước chân vào lớp Một, tôi vẫn là một đứa bé vô cùng ngây thơ, hồn nhiên sống trong sự bao bọc, che chở yêu thương của bố mẹ và cả gia đình. Ngoài mái nhà của mình và những nơi công cộng của địa phương mình thì tôi chưa từng đến một không gian, một môi trường nào khác. Vì vậy mà trường học đối với tôi lúc đó vô cùng mới mẻ. Để cho tôi bớt lạ lẫm thì bố mẹ tôi thường xuyên nói chuyện với tôi về trường học. Mẹ tôi nói đó cũng giống như ngôi nhà thứ hai của tôi vậy, vì ở đó sẽ có thầy cô yêu thương, dạy dỗ tôi tựa như bố mẹ. Hơn nữa, tôi sẽ có những người bạn mới. Khi đi học, tôi sẽ cảm thấy thích thú và có nhiều niềm vui.

Được bố mẹ động viên hàng ngày thì tôi cũng dần biết thêm về nơi gọi là “trường học”. Đặc biệt là khi nhìn anh trai và các anh chị trong xóm ngày nào cũng đến trường cũng khiến tôi vô cùng tò mò. Bởi mỗi khi đi học về anh trai của tôi sẽ kể đủ thứ chuyện, nào là hôm nay anh được điểm mười môn toán, anh được cô giáo khen vì lao động tốt, hay hôm nay anh chơi những trò chơi mới thú vị ra sao. Câu chuyện của anh vô cùng hấp dẫn nên lúc nào tôi cũng chú ý lắng nghe. Rồi tôi càng tò mò hơn về trường học, nơi mà ngày nào anh tôi cũng rất vui vẻ khi trở về.

Khi biết mình sắp phải đi học, tôi không hề sợ hãi mà ngược lại tôi lại có chút mong chờ, vì không biết ở đó như thế nào, sẽ vui vẻ ra sao. Trước ngày khai trường, mẹ tôi đã đi chợ và mua về cho tôi rất nhiều sách vở mới, cặp xách mới làm tôi rất vui. Dù còn chưa biết chữ nhưng tôi cũng mang sách ra bàn học, nâng niu mở từng trang sách, động tác rất nhẹ nhàng vì tôi rất sợ chẳng may mình nhỡ tay thì quyển sách xinh đẹp này sẽ rách.

Ngoài sách vở mới thì mẹ còn mua cho tôi một chiếc cặp sách màu hồng, trên đó có in hình của búp bê tóc vàng. Và một món quà đặc biệt của bố tặng cho tôi nhân dịp tôi vào lớp Một, đó chính là một bộ váy rất đẹp. Chiếc váy có hai phần, phần áo tay bồng và phần chân váy xếp li vô cùng điệu đà. Tôi vui lắm vì ngày khai trường sắp tới này tôi không chỉ có cặp xách mới, sách vở mới mà còn được trưng diện một bộ quần áo đẹp. Tôi càng mong chờ hơn đến ngày khai trường, mong nó nhanh nhanh đến.

Cuối cùng, ngày đó cũng đến. Hôm ấy là ngày mùng năm tháng chín, mẹ tôi đã dậy thật sớm để giúp tôi chuẩn bị đồ ăn sáng và quần áo, đồ dùng. Vì quá háo hức nên tôi cũng dậy từ sớm mà không cần mẹ phải gọi như những mọi ngày. Những hoạt động của tôi cũng diễn ra thật nhanh nhẹn khác lạ: từ đánh răng rửa mặt đến ăn sáng. Trong lúc ăn sáng, cả ông bà và bố mẹ ai cũng đều nói với tôi rằng sắp là học sinh lớp một rồi, đến lớp phải ngoan ngoãn. Điều ấy khiến tôi vui vô cùng vì nghĩ mình đã lớn hơn rồi, từ nay mình sẽ hàng ngày đến trường như anh trai của mình.

Hôm nay, vì mẹ bận việc nên bố đã giữ nhiệm vụ đưa tôi đến trường. Ngồi trên chiếc xe máy của bố, lòng tôi cảm thấy vô cùng hồi hộp. Ngày hôm nay, tôi sẽ đến trường. Ở đó, tôi sẽ khám phá được tất cả những niềm vui, những điều kì diệu mà anh trai thường kể. Trên đường đi, tôi cứ ríu rít hỏi bố: “Bố ơi sắp đến trường rồi phải không ạ?” rồi “Ở trường có nhiều bạn không bố”, những câu hỏi liên tiếp, dồn dập khiến bố tôi không trả lời kịp. Bố chỉ phì cười mà nói “Sắp đến rồi con ạ!” làm tôi đã hồi hộp càng thêm hồi hộp.

Khi đến trường học tôi có chút lo lắng, sợ hãi vì ở đây rất đông người, có những bạn chỉ tầm tuổi tôi, cũng có những anh chị lớn tuổi hơn mình. Không khí vô cùng nhộn nhịp, ồn ào. Nhìn nhiều bạn cũng nắm tay bố mẹ đến trường nhưng đến nơi thì òa khóc nức nở làm tôi cũng rất muốn khóc theo. Nhưng có bố bên cạnh tôi không sợ hãi nữa, gương mẫu đứng vào hàng đầu tiên nên tôi được cô giáo tuyên dương và bố em thì rất tự hào. Đó là những kỉ niệm giản đơn nhưng có lẽ không bao giờ tôi có thể quên được về ngày khai trường đầu tiên của mình.

Kỉ niệm đáng nhớ nhất trong ngày khai trường – Mẫu 6

Năm nay em đã là học sinh lớp 7. Nhưng ngày khai trường vào lớp một vẫn để lại trong kí ức em ấn tượng sâu đậm nhất. Mỗi khi nhắc tới, những hình ảnh đẹp đẽ dường như lại hiện lên nguyên vẹn trước mắt em.

Em vẫn nhớ lúc đó, suốt mấy ngày liền, em đã sống trong tâm trạng nôn nao và háo hức. Bài hát quen thuộc mọi khi em vẫn hát sao hôm nay nghe xúc động lạ thường: “Tạm biệt búp bê thân yêu, Tạm biệt gấu Misa nhé, Tạm biệt thỏ trắng xinh xinh, Mai ta vào lớp Một rồi, Nhớ lắm, thương nhiều, trường Mầm non thân yêu!”

Có một điều gì đó vô cùng kì lạ đang xảy ra trong căn nhà nhỏ bé của gia đình em. Mọi người trong gia đình ai cũng đều háo hức chuẩn bị nào đồ dùng học tập, nào giày dép… cho em. Đêm trước khai trường, cả nhà còn dành thời gian ngồi trò chuyện. Nhân vật chính của mọi câu chuyện là em. Mẹ yêu cầu em mặc thử bộ đồng phục mới tinh đã được giặt sạch sẽ. Chiếc áo trắng cổ lá sen, tay bồng, rất hợp với chiếc váy xanh màu tím than và đôi xăng đan nâu. Ô kìa! Lạ nhỉ! Có cô bé nào giống mình quá đang cười rất tươi, khoe hàm răng thưa và trắng như những hạt ngô non! Nhận ra bóng mình trong gương, em bật cười khanh khách. Bà nội xoa đầu em khen: “Cháu gái bà trông chững chạc ghê! Ngày mai, cháu đã thành học sinh lớp Một rồi! Cố gắng chăm ngoan và học thật giỏi cháu nhé!”

Sáng hôm sau, vì bố mẹ đều phải đi làm nên ông nội là người đưa em tới trường. Ngôi trường tiểu học Nguyễn Du cách nhà em chỉ khoảng nửa cây số. Trên đường, bao bạn nhỏ tung tăng, hớn hở bên cạnh cha mẹ. Giăng ngang cổng trường là tấm băng rôn đỏ nổi bật dòng chữ vàng tươi: “Nhiệt liệt chào mừng năm học mới”. Hai hàng cờ đuôi nheo đủ màu phấp phới trong gió sớm trông giống như những bàn tay đang vẫy vẫy. Niềm vui tràn ngập nơi nơi, từ bầu trời trong xanh, quang đãng; từ màu nắng tinh khôi; từ tiếng chim líu lo chào đón bình minh trong những vòm lá lóng lánh sương thu; từ những gương mặt ngời ngời hạnh phúc và tin tưởng.

Trong sân trường, người đông dần. Các bạn nam tỏ ra mạnh dạn hơn. Các bạn nữ cứ ngại ngùng quẩn bên chân bố mẹ, chẳng nỡ rời. Em cũng vậy. Nhìn ngôi trường rộng lớn, em cảm thấy mình mới nhỏ bé làm sao! Em bỗng nhớ đến lời mẹ dặn dò hãy bình tĩnh, vui vẻ và tập làm quen với chỗ đông người.

Bất chợt, một hồi trống vang lên giục giã. Giờ khai giảng sắp bắt đầu. Các bậc phụ huynh trao con mình cho các thầy cô giáo. Đây đó nổi lên tiếng khóc thút thít, tiếng gọi “Mẹ ơi!” nho nhỏ. Vốn là một đứa bé khá mạnh mẽ nên em không khóc. Em chỉ chào ông nội rồi nhanh chóng bước vào sân trường.

Buổi khai giảng lần đầu tiên trong đời mới long trọng và trang nghiêm làm sao! Tiếng trống trường giòn giã, thôi thúc, náo nức lòng người. Lá cờ tổ quốc bay phần phật trong gió. Học sinh từng khối, từng lớp đội ngũ ngay ngắn, nghiêm chỉnh hướng về lá cờ quốc kỳ. Tiếng quốc ca trầm hùng vang vang trên sân trường rực nắng. Các anh chị lớp Bốn, lớp Năm, khăn quàng đỏ thắm trên vai.

Đầu buổi lễ, cô hiệu trưởng đọc lời khai giảng và dặn dò, khuyên nhủ chúng em nhiều điều. Cô chúc chúng em học tập ngày càng tiến bộ. Những tràng vỗ tay vang lên không ngớt. Sau đó, các tiết mục văn nghệ lần lượt diễn ra. Khi buổi lễ kết thúc, chúng em được cô Thanh chủ nhiệm đưa về lớp. Lớp 1A gồm bốn mươi lăm bạn học sinh, đa phần là con gái. Em nắm chặt tay Oanh và Nga – hai bạn học chung ở trường mẫu giáo Sơn Ca, lòng bớt lo âu. Chỉ một lúc sau, em nhanh chóng hòa nhập với các bạn trong lớp. Những câu chào hỏi rụt rè làm quen cùng những ánh mắt bỡ ngỡ lúc ấy sao thật dễ thương!

Tan học, mẹ đã đến đón em. Ríu rít như chú chim non, em kể cho mẹ nghe những chuyện đã xảy ra trong buổi khai trường đầu tiên trong đời. Dường như tất cả con người, cảnh vật đều chia vui với em – cô học trò lớp Một. Lúc này, bên tai em vẫn còn văng vẳng lời khuyên của cô hiệu trưởng: “Các em hãy chăm ngoan, học giỏi để cha mẹ vui lòng!”

Kỉ niệm đáng nhớ nhất trong ngày khai trường – Mẫu 7

Trong quãng đời học sinh, mỗi người đều sẽ trải qua rất nhiều những ngày khai trường. Nhưng nếu phải lựa chọn một ngày khai trường đáng nhớ nhất có lẽ chẳng ai là không chọn ngày khai trường đầu tiên:

“Ngày đầu tiên đi học Mẹ dắt tay đến trường Em vừa đi vừa khóc Mẹ dỗ dành bên em Ngày đầu tiên đi học Em mắt ướt nhạt nhòa Cô vỗ về an ủi Chao ôi! sao thiết tha…”

Đến bây giờ em vẫn nhớ như in giai điệu của bài hát “Ngày đầu tiên đi học” đã vang lên trong buổi khai trường hôm ấy. Sáng hôm ấy, em thức dậy từ rất sớm. Chuẩn bị cặp sách và quần áo xong, em được mẹ đưa đến trường. Con đường đến trường tuy em cùng các bạn đi qua nhiều lần trong những buổi rong chơi. Nhưng ngày hôm nay em lại thấy thật xa lạ. Có lẽ vì em cảm nhận được trong mình đã thay đổi – trở thành một cô học sinh lớp một.

Khi đến trường, ấn tượng đầu tiên của em là ngôi trường hôm nay thật đẹp đẽ hơn mọi ngày. Sân trường sạch sẽ và được phủ đầy bởi những hàng ghế thẳng tắp. Các bạn và các anh chị học sinh trong bộ đồng phục mới, khuôn mặt ai nấy đều rạng ngời. Các cô giáo trông thật xinh đẹp trong những bộ áo dài nhiều màu sắc. Em được mẹ đưa đến phía hàng của lớp 1A rồi khẽ nói lời chào tạm biệt. Em nhìn theo mẹ mà lòng đầy lo lắng. Theo lời cô giáo, một lát nữa thôi, khối lớp 1 sẽ bắt đầu diễu hành trước toàn trường.

Ít phút sau, buổi diễu hành diễn ra. Lớp chúng em được vinh dự diễu hành đầu tiên. Em cảm thấy rất tự hào về điều đó. Tiếng trống cùng với tiếng bước chân của các bạn học sinh làm trái tim em cảm thấy thật rộn ràng. Sau buổi diễu hành, thầy hiệu trưởng phát biểu để chào mừng những học sinh lớp một. Tuy rằng không thể nhớ rõ được những lời thầy nói, nhưng giọng nói ấm áp của thầy đến giờ vẫn còn vang vọng trong lòng em. Nhưng điều làm em nhớ nhất trong buổi lễ khai giảng hôm đó chính là tiếng trống khai trường. Tiếng trống bắt đầu một năm học mới – cũng là một năm học đầu tiên của em. Tiếng trống vang vọng trong kí ức về một buổi đầu khai trường thật ý nghĩa và thiêng liêng trong cuộc đời học sinh. Nó giống như một bước ngoặc lớn trong cuộc đời của mỗi đứa trẻ vậy. Sau hôm nay thôi, chúng em sẽ trở thành những cô cậu học trò. Chúng em sẽ phải rời xa vòng tay của bố mẹ để tìm đến với chân trời mới – chân trời của tri thức.

Cho đến hiện tại, khi đã lớn khôn. Dù đi qua biết bao ngày khai giảng năm học mới nhưng em vẫn nhớ về ngày hôm ấy với những tình cảm trân trọng nhất.

Kỉ niệm đáng nhớ nhất trong ngày khai trường – Mẫu 8

Có lẽ trong cuộc đời mỗi người đều sẽ luôn ghi nhớ về những kỉ niệm của tuổi học trò. Đối với tôi, một trong những kỉ niệm sâu sắc và đáng nhớ nhất chính là về buổi khai trường đầu tiên dưới mái trường Trung học cơ sở.

Sau biết bao ngày tháng miệt mài nỗ lực học tập để có thể hoàn thành tốt trong kì thi chuyển cấp. Tôi đã đạt được mong ước của mình là có thể đặt chân vào ngôi trường cấp hai – một ngôi trường chuyên của huyện mà tôi hằng mơ ước. Ngày hôm nay, tôi đến trường dự lễ khai giảng năm học mới trong tâm thế của một học sinh cấp hai. Với sự thay đổi này, tôi cảm thấy mình như trưởng thành thêm một bậc vậy.

Trong bộ đồng phục mới tinh đã được mẹ giặt sạch sẽ. Tôi đeo chiếc cặp mới đã chuẩn bị đầy đủ sách vở và đạp xe đến trường. Chiếc xe đạp là phần thưởng mà bố hứa sẽ tặng tôi nếu thi đỗ. Trường mới cách nhà tôi khoảng mười lăm phút đạp xe. Khi đến nơi, tôi cảm thấy ngôi trường hôm nay sao mà khác. Sân trường được quét dọn sạch sẽ và được phủ đầy các hàng ghế dành cho học sinh. Phía trên sân khấu, dòng chữ: “Lễ khai giảng năm học 2020 – 2021” được in chính giữa tấm băng rôn trông vô cùng nổi bật. Nhiều học sinh đã nhanh chóng ổn định vào chỗ ngồi. Đúng bảy giờ ba mươi phút, lễ khai giảng chính thức bắt đầu. Một hồi trống giòn giã vang lên. Chúng tôi bắt đầu lễ diễu hành. Không khí tưng bừng, rộn rã. Khi đi qua sân khấu, tôi có cảm giác như các thầy cô đang nhìn chúng tôi. Điều ấy khiến tôi cảm thấy thật hồi hộp. Sau khi buổi lễ diễu hành kết thúc, cả trường ổn định để tiến hành nghi thức chào cờ vô cùng nghiêm trang. Lần lượt là những lời phát biểu của thầy hiệu trưởng, các tiết mục văn nghệ diễn ra. Đặc biệt, tôi vô cùng vinh dự khi được đại diện cho toàn thể học sinh khối lớp 6 lên phát biểu cảm nghĩ. Lúc mới bước lên sân khấu, tôi cảm thấy vô cùng hồi hộp, thậm chí còn không dám nhìn xuống dưới sân trường. Đây là lần đầu tiên tôi đứng trước nhiều người như vậy. Thật may mắn, tôi nhanh chóng lấy lại được bình tĩnh. Bài phát biểu cũng diễn ra vô cùng trôi chảy. Sau lời phát biểu của mình, tôi đã nhận được tiếng vỗ tay của toàn trường. Khi trở về, tôi cảm thấy vô cùng hãnh diễn.

Buổi lễ khai giảng kết thúc bằng hồi trống chào mừng năm học mới của thầy hiệu trưởng. Đối với tôi, tiếng trống ấy vô cùng ý nghĩa. Đó là một hồi trống trang nghiêm nhất, vang vọng nhất mà tôi từng nghe. Nó vang lên trong không khí im phăng phắc, nghiêm trang và hồi hộp. Tôi hiểu rằng, trong giờ phút ấy, ai cũng nghĩ đến một năm học đầy nỗ lực ở phía trước.

Sau khi kết thúc buổi lễ khai giảng, chúng tôi thực sự đã bước vào một năm học mới. Tôi cùng với Hoa – cô bạn thân của mình háo hức cùng nhau lên lớp. Tiết học đầu tiên, chúng tôi được học môn Ngữ Văn – môn học mà tôi vô cùng yêu thích. Bài giảng của cô giáo đã đem đến cho tôi những bài học thật thú vị. Buổi học hôm ấy sao mà trôi qua thật nhanh và tràn ngập tiếng cười.

Dù mai này có trưởng thành, nhưng buổi khai trường năm lớp 6 chắc chắn sẽ là một dấu ấn khó phai mờ trong cuộc đời học sinh của tôi.

Kỉ niệm đáng nhớ nhất trong ngày khai trường – Mẫu 9

Quãng đời học sinh của ai cũng đều phải trải qua rất nhiều buổi lễ khai trường. Nhưng đối với tôi, ngày khai trường đầu tiên của những năm học cấp hai lại để lại những ấn tượng thật tốt đẹp.

Ngày khai trường của một học sinh lớp sáu – học sinh đầu cấp với tôi thật trọng đại. Tôi dường như đã trưởng thành hơn một bậc. Điều ấy khiến tôi cảm thấy sung sướng, hồi hộp và háo hức mong chờ. Nhưng khi đứng trước cánh cổng trường cao rộng, trước một khung cảnh nhộn nhịp tiếng nói cười, tôi lại có chút lo âu.

Buổi lễ khai giảng bắt đầu vào đúng bảy giờ ba mươi phút. Một hồi trống giòn giã vang lên. Trống ngực đập mạnh, tôi hồi hộp chờ đợi những điều tiếp theo… Rồi cũng đến lượt lớp tôi diễu hành, tiếng nhạc rộn rã, tiếng vỗ tay rào rào. Khi đi qua trước lễ đài, tôi có cảm giác cả trường đang nhìn vào chúng tôi: các thầy cô giáo, các vị khách mời, các anh chị lớp trên… Không khí tưng bừng, sự chào đón nồng nhiệt của mọi người khiến tôi sung sướng. Học sinh lớp sáu như chúng tôi như là niềm mong đợi, hy vọng tiếp bước các anh chị lớp chín.

Sau khi lễ diễu hành kết thúc, dù đã trở về và ngồi lặng im trong hàng của mình, tôi vẫn bị không khí náo nức tưng bừng của ngày khai trường làm cho hồi hộp, thích thú. Những lời phát biểu của thầy cô, những tiết mục văn nghệ đem lại cảm giác vui tươi, rộn ràng. Nhưng có lẽ kỷ niệm tôi không thể quên được đó chính là khi kết thúc buổi lễ khai giảng, thầy hiệu trưởng đã thay mặt các thầy cô trong trường đánh lên hồi trống khai trường. Đó là một hồi trống trang nghiêm nhất, vang vọng nhất mà tôi từng nghe; nó vang lên trong không khí im phăng phắc, nghiêm trang và hồi hộp. Tôi hiểu rằng, từ giờ phút ấy, chúng tôi sẽ bước vào một năm học tập mới. Thầy cô mới, bạn bè mới, môn học mới – tất cả đều đang đợi chờ tôi ở phía trước. Tất cả đều hứa hẹn về một năm học đầy bổ ích, đầy thú vị.

Sau khi kết thúc buổi lễ, chúng tôi ra về trong niềm hân hoan. Ngày mai, tôi sẽ đến trường với tư cách là một học sinh trung học cơ sở. Tuy đó không phải là buổi học đầu tiên ở ngôi trường mới, nhưng tôi tin chắc đó sẽ là một buổi học vô cùng ý nghĩa khi tôi chính thức trở thành học sinh của ngôi trường cấp hai yêu dầu. Điều đó khiến tôi cảm thấy vô cùng hãnh diện, tôi cảm thấy mình đã trưởng thành hơn. Khi nhắc về những kỉ niệm ngày khai trường, trong lòng tôi lại nhớ đến những câu văn trong tác phẩm “Tôi đi học” của nhà văn Thanh Tịnh mà tôi đã từng đọc: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường”.

Kỉ niệm đáng nhớ nhất trong ngày khai trường – Mẫu 10

Những ngày mùa thu tháng chín, có lẽ mỗi học sinh lại hân hoan chờ đợi ngày khai giảng. Với tôi, ngày khai giảng đáng nhớ nhất chính là vào năm lớp 6 – ngày khai giảng đầu tiên dưới mái trường Trung học cơ sở thân yêu.

Khi tiếng ve đã không còn râm ran trên những tán cây cũng là lúc học sinh chúng tôi tựu trường. Ngôi trường Trung học cơ sở mà tôi sẽ theo học có tuổi đời đã năm mươi năm. Lần đầu tiên đến thăm trường, tôi cảm nhận được vẻ cổ kính từ dãy nhà, hàng cây, sân trường… Đây sẽ là nơi gắn bó với tôi suốt bốn năm học, điều đó khiến tôi rất hạnh phúc.

Vào b uổi sáng ngày khai trường, tôi dậy thật sớm để chuẩn bị. Trong bộ đồng phục mới tinh đã được mẹ giặt sạch sẽ, tôi tự đạp xe đến trường. Bây giờ, tôi đã là một cô học sinh trung học cơ sở. Tôi cảm thấy mình như trưởng thành hơn khi có thể tự mình đến trường. Sau mười lăm phút, tôi đã đến nơi. Cổng trường đông đúc học sinh. Khuôn mặt ai cũng hân hoan, háo hức. Tôi cảm thấy ngôi trường hôm nay sao mà khác. Sân trường được quét dọn sạch sẽ và được phủ đầy các hàng ghế dành cho học sinh. Phía trên sân khấu, dòng chữ: “Lễ khai giảng năm học 2020 – 2021” được in chính giữa tấm băng rôn trông vô cùng nổi bật.

Đúng bảy giờ ba mươi phút, lễ khai giảng chính thức bắt đầu. Đầu tiên là phần diễu hành chào mừng các học sinh lớp sáu. Các lớp xếp thành hai hàng ngay ngắn, đi từ phía bên trái cánh gà qua sân khấu. Rồi cũng đến lượt lớp tôi diễu hành, tiếng nhạc rộn rã, tiếng vỗ tay rào rào. Khi đi qua trước lễ đài, tôi có cảm giác cả trường đang nhìn vào chúng tôi: các thầy cô giáo, các vị khách mời, các anh chị lớp trên… Sau khi diễu hành, chúng tôi trở về hàng để tham dự buổi lễ. Lễ chào cờ diễn ra rất trang nghiêm. Tôi hát quốc ca mà lòng cảm thấy thật tự hào. Sau lễ chào cờ là phần phát biểu của cô tổng phụ trách về các vấn đề như tổng kết năm học cũ, khen thưởng cá nhân, tập thể xuất sắc và đề ra mục tiêu trong năm học mới. Một số tiết mục văn nghệ của các anh chị học sinh khiến buổi lễ sôi nổi hơn. Cuối cùng là lời phát biểu của thầy hiệu trưởng, cùng với tiếng trống chào mừng năm học mới để kết thúc buổi lễ. Đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ những lời dặn dò của thầy dành cho chúng tôi.

Buổi lễ khai giảng diễn ra khoảng một tiếng ba mươi phút. Sau khi kết thúc, các học sinh vào lớp để bắt đầu buổi học đầu tiên. Tiết học đầu tiên là môn Toán sẽ do cô Thủy dạy. Cô cũng chính là giáo viên chủ nhiệm của lớp tôi. Tiết học diễn ra rất sôi nổi, vui vẻ vì cô và trò đều đã làm quen từ trước.

Ngày khai trường đầu tiên của quãng đời học sinh trung học cơ sở đối với tôi thật đẹp đẽ. Đó chính là hành trang quý giá để tôi đem theo trong những năm học tiếp theo.

Tin Tức

Kiến thức phan tich kho 2 bai noi voi con | Banmaynuocnong

11
Kiến thức phan tich kho 2 bai noi voi con | Banmaynuocnong

Top 3 mẫu cảm nhận khổ 2 bài Nói với con siêu hay

Cảm nhận khổ 2 bài Nói với con để thấy được tình cha con thắm thiết, tình yêu quê hương yêu đồng bào trong những lời dạy của cha đối với con. Sau đây là bài cảm nhận khổ thơ cuối bài Nói với con, mời các bạn cùng tham khảo.

  • Top 5 bài cảm nhận khổ 1 bài Nói với con siêu hay

1. Dàn ý cảm nhận bài Nói với con đoạn 2

a) Mở bài

– Giới thiệu tác giả Y Phương:

+ Y Phương là nhà thơ dân tộc Tày với các tác phẩm thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi.

– Giới thiệu bài thơ Nói với con:

+ Nói với con là một trong những bài thơ tiêu biểu viết về tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương và dân tộc.

– Dẫn dắt vấn đề, trích dẫn khổ thơ thứ 2 bài Nói với con:

+ Khổ thơ thứ 2 thể hiện lòng tự hào về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, về truyền thống cao đẹp của quê hương và niềm mong ước con hãy kế tục xứng đáng truyền thống ấy.

b) Thân bài: Cảm nhận khổ thơ thứ 2 bài Nói với con

* Luận điểm 1: Những phẩm chất cao quý của “người đồng mình”

– “Người đồng mình” : người vùng mình, người miền quê mình -> cách nói mang tính địa phương của người Tày gợi sự thân thương, gần gũi.

=> Nghĩa rộng hơn là những người sống cùng trên một đất nước, một dân tộc.

– “thương” kết hợp với từ chỉ mức độ “lắm” -> thể hiện sự đồng cảm, sẻ chia.

“Cao đo nỗi buồn

Xa nuôi chí lớn”

– “Cao”, “xa” : khoảng cách của đất trời -> những khó khăn, thách thức mà con người phải trải qua trong cuộc đời.

-> Hai câu thơ đăng đối ngắn gọn đúc kết một thái độ, một cách ứng xử cao quí: người biết sống là người biết vượt qua nỗi buồn, gian nan, thử thách… hơn nữa còn phải luôn nuôi chí lớn, nỗ lực phấn đấu đi lên. Có như vậy mới thành công trên con đường đời, gặt hái được nhiều hoa thơm, trái ngọt.

– “đá gập ghềnh”, “thung nghèo đói” : ẩn dụ cho những gian lao, vất vả

– “Sống”, “không chê” : ý chí và quyết tâm vượt qua thách thức, khó khăn của “đá gập ghềnh”, “thung nghèo đói”.

-> Cho dù cuộc sống gian nan, vất vả, người đồng mình vẫn chịu đựng và suốt đời gắn bó thủy chung, không chê bai, không một lời than thở

=> Khẳng định và ngợi ca đức tính cao đẹp của “người đồng mình”: sống sâu sắc, ý chí mạnh mẽ, có một trái tim ấm áp và nghị lực phi thường.

– Biện pháp so sánh “Sống như sông như suối” -> sống lạc quan, mạnh mẽ như thiên nhiên (sông, suối) chấp nhận những thác ghềnh để rút ra những bài học quí báu.

“Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc”

-> Niềm tin vào ngày mai tươi sáng, cực nhọc, đói nghèo rồi sẽ tan biến.

“Người đồng mình thô sơ da thịt”

– “thô sơ da thịt” : giản dị, chất phác, thật thà -> Ca ngợi bản chất mộc mạc, giản dị, chân thật của người đồng mình sớm khuya vất vả.

“Chẳng mấy ai nhỏ bé” -> ngợi ca ý chí, cốt cách không hề “nhỏ bé” của người đồng mình.

“Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương”

– “đục đá kê cao quê hương” : truyền thống làm nhà kê đá cho cao của người miền núi

-> Ẩn dụ cho tinh thần đề cao, tự hào về quê hương, tự tay xây dựng nên truyền thống quê hương đẹp giàu.

– “quê hương thì làm phong tục” : phong tục tập quán là điểm tựa tinh thần nâng đỡ và tạo động lực cho con người.

=> Đây chính là mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng : Mỗi người, mỗi cuộc đời chính là một “mùa xuân nho nhỏ” tạo nên mùa xuân cộng đồng và cộng đồng sẽ là cái nôi nâng đỡ cho mùa xuân tâm hồn mỗi người.

* Luận điểm 2: Lời dặn dò, nhắn nhủ trìu mến, mộc mạc với biết bao niềm tin hi vọng của người cha.

“Con ơi tuy thô sơ da thịt

Lên đường

Không bao giờ nhỏ bé được

Nghe con.”

– “Tuy thô sơ da thịt”, “không bao giờ nhỏ bé” một lần nữa lặp lại để khẳng định và khắc sâu hơn những phẩm chất cao đẹp của “người đồng mình”

– “Lên đường” -> Người con đã khôn lớn, đến lúc tạm biệt gia đình, quê hương để bước vào một trang mới của cuộc đời

– “Nghe con” -> hai tiếng ẩn chứa bao nỗi niềm và lắng đọng, kết tinh mọi cảm xúc, tình yêu thương vô bờ bến của cha dành cho con.

-> Qua việc ca ngợi những đức tính tốt đẹp của người đồng mình, người cha mong con sống có tình nghĩa với quê hương, giữ đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của cha ông, biết chấp nhận gian khó và vươn lên bằng ý chí của mình.

=> Lời dặn của cha thật mộc mạc, dễ hiểu, thấm thía, ẩn chứa niềm hi vọng lớn lao rằng đứa con sẽ tiếp tục vững bước trên đường đời, tiếp nối truyền thống và làm vẻ vang quê hương, đất nước.

* Đặc sắc nghệ thuật

– Thể thơ tự do phù hợp với lối nói, tư duy khoáng đạt của người miền núi

– Giọng điệu thơ linh hoạt lúc thiết tha, trìu mến khi trang nghiêm

– Hình ảnh thơ vừa cụ thể vừa khái quát, mộc mạc, giàu chất thơ

– Biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ…

c) Kết bài

– Khẳng định lại giá trị nội dung của đoạn thơ thứ 2 bài Nói với con

– Nêu cảm nhận của em về khổ thơ.

2. Sơ đồ tư duy cảm nhận Nói với con khổ 2

Sơ đồ tư duy cảm nhận khổ 2 của bài thơ Nói với con

Tin Tức

Tổng hợp on tap toan lop 3 hoc ki 2 | Banmaynuocnong

12
Tổng hợp on tap toan lop 3 hoc ki 2 | Banmaynuocnong

Đề cương ôn tập học kì 2 môn Toán lớp 3 Hay nhất 2021

Đề cương ôn tập học kì 2 môn Toán lớp 3 bao gồm các dạng bài tập trọng tâm giúp các em học sinh ôn luyện ôn thi chuẩn bị cho các bài thi cuối học kì 2 lớp 3. Đồng thời đây cũng là tài liệu cho các thầy cô khi hướng dẫn ôn tập môn Toán cuối học kì 2 cho các em học sinh. Mời các bạn cùng tham khảo và tải về chi tiết.

Chủ đề: So sánh các số trong phạm vi 100 000

Bài 1. Viết tiếp số thích hợp vào dưới mỗi vạch:

Đề cương ôn tập môn Toán lớp 3 học kì 2

Bài 2. Viết các số sau theo mẫu:

Viết số

Đọc số

65 097

Sáu mươi lăm nghìn không trăm chín mươi bảy

…………

Chín mươi hai nghìn bảy trăm linh ba

24 787

54 645

……….

Hai mươi mốt nghìn chín trăm sáu mươi tư

87 235

………..

Tám mươi bảy nghìn sáu trăm ba mươi chín

65 898

98 587

Bài 3. A, Viết các số sau theo mẫu: 9 542 = 9 000 + 500 + 40 + 2

4 985 =…………………………………..

4 091 =…………………………………..

7 945 =…………………………………..

2 986 = ………………………………….

3 098 =…………………………………..

9 086 =…………………………………..

2 980 =…………………………………..

4 920 =…………………………………..

7 888 =…………………………………..

1 753 =…………………………………..

3 765 =…………………………………..

8 050 =…………………………………..

65 999 =…………………………………..

43 909 =………………………………..

12 000 =…………………………………..

24 091 =………………………………..

B, Viết các tổng theo mẫu: 6000 + 300 + 40 + 8 = 6 348

5 000 + 400 + 90 + 2 = …………..

6 000 + 90 + 9 = ……………..

9 000 + 6 = …………..

5 000 + 800 + 3 = ……………..

5 000 + 800 + 6 = …………..

3 000 + 30 = ……………..

7 000 + 400 = …………..

7 000 + 1 = ……………..

6 000 + 200 + 90 = …………..

9 000 + 50 + 7 = ……………..

2 000 + 90 + 2 = …………..

1 000 + 500 = ……………..

60 000 + 70 + 3 = …………….

80 000 + 8 = ………………

90 000 + 9 000 = …………….

60 000 + 40 = ………………..

Bài 4. Viết số thích hợp vào chỗ chấm

A, 3005; 3010; 3015;…………….;…………….. .

B, 91 100; 91 200; 91 300; ……………..; ………………… .

C, 58 000; 58 010; 58 020; ………………..; ………………… .

D, 7108; …………..; 7010; 7011; …………….; ………………… .

E, ……………; 14 300; 14 350; ………………; ………………. .

Bài 5. Điền dấu > < = vào chỗ chấm

65 255 ……… 65 255

12 092 ……… 13 000

90 258 ……… 90 285

75 242 ……… 75 243

20 549 ………… 30 041 – 430

60 679 ………… 65 908 – 2542

53 652 + 3215 …………….. 54 245

462 + 54 254 …………….. 60 000

70 000 + 30 000…………… 100 000

90 000 – 3000…………… 80 000

Bài 6. Tìm số lớn nhất trong các số sau:

a, 90 653; 99 000; 89 999; 90 001; 98 888.

b, 65 098; 65 099; 65 199; 65 999; 65 899.

c, 35 978; 35 099; 35 699; 35 989; 35 099.

Bài 7. Tìm số bé nhất trong các số sau:

a, 90 653; 99 000; 89 999; 90 001; 98 888.

b, 65 098; 65 099; 65 199; 65 999; 65 899.

c, 35 978; 35 099; 35 699; 35 989; 35 099.

Bài 8. Viết các số sau theo thứ tự từ lớn đến bé:

a, 90 653; 99 000; 89 999; 90 001; 98 888.

……………………………………………………………………………………………

b, 65 098; 65 099; 65 199; 65 999; 65 899.

……………………………………………………………………………………………

c, 35 978; 35 099; 35 699; 35 989; 35 099.

……………………………………………………………………………………………

Bài 9. Viết các số sau theo thứ tự từ bé đến lớn:

a, 90 653; 99 000; 89 999; 90 001; 98 888.

……………………………………………………………………………………………

b, 65 098; 65 099; 65 199; 65 999; 65 899.

……………………………………………………………………………………………

c, 35 978; 35 099; 35 699; 35 989; 35 099.

……………………………………………………………………………………………

Bài 10. Viết số thích hợp vào chỗ chấm:

A, Số liền sau của 9999 là:…………..

F, Số liền sau của 65 975 là:…………..

B, Số liền sau của 8999 là:…………..

G, Số liền sau của 20 099 là:…………..

C, Số liền sau của 90 099 là:…………..

H, Số liền sau của 16 001 là:…………..

D, Số liền trước của 60 000 là:…………..

I, Số liền trước của 76 090 là:…………..

E, Số liền trước của 78 090 là:…………..

K, Số liền trước của 54 985 là:…………..

Bài 11. Ba số ở dòng nào được viết theo thứ tự từ bé đến lớn?

A, 76 888; 76 889; 76 900

C, 25 099; 31 084; 27 099

B, 54 900; 54 899; 54 888

D, 98 000; 99 000; 98 999

Bài 12. Ba số ở dòng nào được viết theo thứ tự từ lớn đến bé?

A, 76 888; 76 889; 76 900

C, 25 099; 31 084; 27 099

B, 54 900; 54 899; 54 888

D, 98 000; 99 000; 98 999

Bài 13. Khoanh vào số lớn nhất trong các số sau?

A, 76 888; 76 889; 76 900

C, 25 099; 31 084; 27 099

B, 54 900; 54 899; 54 888

D, 98 000; 99 000; 98 999

Bài 14. Khoanh vào số bé nhất trong các số sau?

A, 76 888; 76 889; 76 900

C, 25 099; 31 084; 27 099

B, 54 900; 54 899; 54 888

D, 98 000; 99 000; 98 999

Chủ đề: Ôn tập bốn phép tính trong phạm vi 100 0000

Bài 1. Tính nhẩm:

60 000 + 30 000 = ………………

52 000 + 4 000 = ………………

90 000 – 40 000 = ………………

76 000 – 3 000 = ………………

35 000 + 5 000 = ………….

31 000 + 900 = ………….

30 000 x 2 = …………….

12 000 x 2 = …………….

80 000 : 2 = ……………

30 000 : 2 = ……………

52 000 – 2 000 = ………….

72 000 : 8 = ………….

Bài 2. Tính các phép tính sau:

Đề cương ôn tập học kì 2 môn Toán lớp 3

Bài 3. Một cửa hàng có 90 000 kg gạo, lần đầu bán được 28 000 kg gạo, lần sau bán được 30 000 kg gạo. Hỏi cửa hàng còn bao nhiêu kg gạo? (giải bằng 2 cách)

Bài giải cách 1:

……………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………

Bài giải cách 2:

……………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………

Bài 4. Tính nhẩm:

40 000 + 50 000 – 30 000 =

90 000 – 50 000 – 30 000 =

(40 000 + 50 000) – 30 000 =

90 000 – 50 000 + 30 000 =

40 000 + (50 000 – 30 000) =

90 000 – (50 000 + 30 000) =

80 000 – (50 000 – 30 000) =

70 000 + 20 000 – 60 000 =

80 000 – (50 000 + 30 000) =

90 000 – 50 000 + 10 000 =

3000 x 2 : 3 =

9000 – 2000 x 2 =

4900 : 7 x 3 =

2000 x 3 + 4000 =

4000 : 8 x 2 =

8000 : 4 : 2 =

5000 x 2 : 5 =

8000 – 2000 : 2 =

8000 : 2 + 3000 =

4000 + 2000 x 2 =

Bài 5. Tìm X

X + 5425 = 7985

6523 + X = 9426

2 x X = 76490

X : 3 = 6534

X x 4 = 9632

6522 – X = 2174

X + 10984 = 90632

65362 – X = 10009

Bài 6. Mua 6 cái bút cùng loại phải trả 36 600 đồng. Hỏi mua 9 cái bút như thế phải trả bao nhiêu tiền?

……………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………

Bài 7. Một cửa hàng có 6906l dầu, đã bán được 1/3 số dầu đó. Hỏi cửa hàng đó còn lại bao nhiêu lít dầu?

Bài giải:

……………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………

Bài 8. Một hình vuông có chu vi là 880 cm, tính diện tích hình vuông đó?

Bài giải:

……………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………

Bài 9. Một hình chữ nhật có chiều rộng là 13 dm. Chiều dài gấp 2 lần chiều rộng. Tính diện tích hình chữ nhật đó?

Bài giải:

……………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………

Bộ đề ôn thi học kì 2 lớp 3 môn Toán

Đề thi học kì 2 lớp 3 môn Toán – Đề 1

I. Phần trắc nghiệm: Khoanh tròn vào trước câu trả lời đúng (3 điểm)

Câu 1: Số gồm năm chục nghìn, sáu nghìn, hai trăm, tám đơn vị viết là: (M1 – 0.5 điểm)

A. 56 208

B. 56 200

C. 56 280

D. 56 218

Câu 2: Số liền trước số lớn nhất có năm chữ số là: (M2 – 0.5 điểm)

A. 90 000

B. 99 998

C. 100000

D. 99 999

Câu 3: Số 19 viết theo số La Mã là: (M2- 0.5 điểm)

A. XVIIII

B. XXI

C. XIX

D. IXX

Câu 4: 1km =… m. Số thích hợp điền vào chỗ trống là: (M1 – 0.5 điểm)

A. 10000

B. 1001

C. 1000

D. 100

Câu 5: Hình vuông có cạnh là 8cm thì diện tích là (M2 – 0.5 điểm):

A. 32 cm2

B. 64cm2

C. 64cm

Câu 6: Chu vi hình chữ nhật có chiều dài 7cm, chiều rộng 5cm là (M2 – 0.5 điểm):

A. 24cm

B. 12cm

C. 24 cm2

II. Phần tự luận:

Câu 7: (M 2 – 2 điểm) Đặt tính rồi tính.

23415 + 62819 53409 – 19232

16132 x 6 93602 : 8

Câu 8: Tìm X (M 2 – 2 điểm)

X : 3 = 17420 71542 – X = 51079

Câu 9: 5 xe tải chở được 36 700kg hàng. Hỏi 7 xe tải như thế chở được bao nhiêu ki – lô – gam hàng? (Biết mức chở của mỗi xe là như nhau.) (M 3 – 2 điểm)

Câu 10: (M4 – 1 điểm)

a) Tìm tích của số lớn nhất có 4 chữ số với số chẵn lớn nhất có 1 chữ số

b) Tính nhanh:

(61273 + 27981 – 2981 – 3273) x (9×4 – 36)

Đáp án Đề thi học kì 2 lớp 3 môn Toán

Môn: Toán – Khối 3 (40 phút)

I. Phần trắc nghiệm (3 điểm)

Câu 1: A – 0,5 điểm

Câu 2: B – 0,5 điểm

Câu 3: C – 0,5 điểm

Câu 4: C – 0,5 điểm

Câu 5: B – 0,5 điểm

Câu 6: A – 0,5 điểm

II. phần tự luận (7 điểm):

Câu 7 (2 điểm): HS tự Đặt tính rồi tính

Câu 8: (2 điểm) Tìm X

X : 3 = 17 420

X = 17 420 x 3 (0,5 điểm)

X = 52 260 (0,5 điểm)

71 542 – X = 51 079

X = 71 542 – 51 079 (0,5 điểm)

X = 20 463 (0,5 điểm)

Bài 9 (2 điểm)

Mỗi xe tải chở được số hàng là:

36 700 : 5 = 7340 (kg)

7 xe tải chở số hàng là:

7340 x 7 = 51 380 (kg)

Đáp số: 52 780 kg hàng

Bài 10 (1 điểm)

a) Số lớn nhất có 4 chữ số là 9999. Số chẵn lớn nhất có 1 chữ số là 8. (0.25 điểm).

Tích cần tìm là: 9999 x 8 = 79992 (0.25 điểm)

b) (61273 + 27981 – 2981 – 3273) x (9 x 4 – 36) (0.25 điểm)

= (61273 + 27981 – 2981 – 3273) x 0 = 0 (0.25 điểm).

Đề thi học kì 2 lớp 3 môn Toán – Đề 2

Câu 1: Khoanh vào trước câu trả lời đúng:

a) Số liền sau của 39 999 là:

A. 40 000

B. 40 998

C. 39 998

D. 40 100

b) Số lớn nhất trong các số: 8 576; 8 756; 8 765; 8 675 là:

A. 8 576

B. 8 756

C. 8 765

D. 8 675

Câu 2: Hình vuông có cạnh 9cm. Diện tích hình vuông là:

A. 36cm²

B. 81cm

C. 81cm²

D. 36cm

Câu 3: Hình chữ nhật ABCD có chiều dài 6 cm, chiều rộng 4 cm. Chu vi của hình chữ nhật là:

A. 10 cm

B. 20 cm

C. 24 cm²

D. 24 cm

Câu 4: Đặt tính rồi tính:

a) 3250 – 324

b) 84 695 – 2 367

c) 1 041 x 7

d) 24 672 : 6

Câu 5: Khoanh vào kết quả đúng:

Số thích hợp cần điền vào chỗ chấm để 6m 7cm = …… cm là:

A. 67

B. 607 cm

C. 670

D. 607

Câu 6. Tìm x:

a) x – 357 = 4 236

b) x : 7 = 4214

Câu 7: Viết các số: 6 022; 6 202; 6 220; 6 002 theo thứ tự từ lớn đến bé là:

…………………………………………………………….

Câu 8: Một đội công nhân phải sửa quãng đường dài 4 215 m, đội đó đã sửa được 1/3 quãng đường. Hỏi đội công nhân đó còn phải sửa bao nhiêu mét đường nữa?

Câu 9: Một hình chữ nhật có chiều rộng 8m, Chiều dài hơn chiều rộng 13m. Chu vi hình chữ nhật đó là bao nhiêu mét?

Trả lời: Chu vi hình chữ nhật đó là: …………………

Câu 10: Túi thứ nhất đựng được 18 kg gạo, túi thứ hai đựng được gấp 3 lần túi thứ nhất. Hỏi cả hai túi đựng được tất cả bao nhiêu kg gạo?

Đề thi học kì 2 lớp 3 môn Toán

Câu 1: 1 đ

a) A; b) C

Câu 2: 1 đ Đáp án C

Câu 3: 1 đ Đáp án D

Câu 4: 1 đ

a) 3250 – 324 = 2926

b) 84 695 – 2 367 = 82328

c) 1 041 x 7 = 7287

d) 24 672 : 6 = 4112

Câu 5: 1 đ Đáp án D

Câu 6: 1 đ

a) x – 357 = 4 236

=> x = 4 236 + 357 = 4593

b) x : 7 = 4214

=> x = 4214 x 7 = 29498

Câu 7: 1 đ Thứ tự đúng là: 6 220; 6 202; 6 022; 6 002

Câu 8: 1 đ

Quãng đường là: 4 215 : 3 = 1 405 (m) 0.5 đ

Quãng đường còn phải sửa là: 4 215 – 1 405 = 2 810 (m) 0.25 đ

Đáp số: 2 810 m

Câu 9: 1 đ

Chu vi hình chữ nhật là: 58 m

Câu 10: 1 đ

Giải:

Cách 1:

Túi thứ hai đựng được số gạo là: 18 x 3 = 54 (kg) 0.5 đ

Cả hai túi đựng được số gạo là: 18 + 54 = 72 (kg) 0.25 đ

Đáp số: 0.25 đ

Cách 2:

Vì túi thứ hai đựng được gấp 3 lần túi thứ nhất, nên cả hai túi đựng được số gạo gấp 3 + 1 = 4 (lần) túi thứ nhất.

Vậy cả hai túi đựng được số gạo là: 18 x 4 = 72 (kg) 0.25 đ

Đáp số: 0.25 đ

Đề thi học kì 2 lớp 3 môn Toán – Đề 3

Câu 1: (1,0 điểm). Khoanh vào trước câu trả lời đúng: (Mức 1)

a) Số liền sau của 42 099 là:

A. 42 100

B. 42 098

C. 43 099

D. 43 100

b) Số lớn nhất trong các số: 8 576 ; 8 756 ; 8 765 ; 8 675 là:

A. 8 576

B. 8 756

C. 8 765

D. 8 675

c) 1 giờ 15 phút = … phút

A. 115 phút

B. 615 phút

C. 65 phút

D. 75 phút

d) Ngày 28 tháng 4 là thứ sáu. Ngày 4 tháng 5 là thứ mấy?

A. Thứ tư

B. Thứ năm

C. Thứ bảy

D. Chủ nhật

Câu 2: (1,0 điểm). Điền dấu: < > = (Mức 1)

a) 76 635 … 76 653

b) 18 536 … 17 698

c) 47 526 … 47 520 + 6

d) 92 569 … 92 500 + 70

Câu 3: (1,0 điểm). Hình chữ nhật ABCD có chiều dài 6 cm, chiều rộng 4 cm. (Mức 2)

a) Diện tích của hình chữ nhật là:

A. 24 cm²

B. 24cm

C. 20 cm²

D. 20 cm

b) Chu vi của hình chữ nhật là:

A. 10 cm

B. 20cm

C. 24 cm²

D. 24 cm

Câu 4: (1,0 điểm). 12m7dm = … dm. Số thích hợp điền vào chỗ chấm là: (Mức 1)

A. 1 207 dm

B. 127 dm

C. 1 270 dm

D. 1 027 dm

Câu 5: (2,0 điểm). Đặt tính rồi tính: (Mức 2)

a) 27 684 + 11 023

b) 84 695 – 2 367

c) 1 041 x 7

d) 24 672 : 6

Câu 6: (1,0 điểm). Tính giá trị của biểu thức: (Mức 2)

a) 229 + 126 x 3 = …………………

b). (9 759 – 7 428) x 2 = ………….

Câu 7: (1,0 điểm). Tìm x: (Mức 2)

a) x x 6 = 2 412

b) x : 3 = 1 824

Câu 8: (2,0 điểm) (Mức 3)

Một người đi ô tô trong 2 giờ đi được 82 km. Hỏi trong 5 giờ người đó đi ô tô đi được bao nhiêu kí- lô- mét?

Đáp án Đề thi cuối học kì 2 lớp 3 môn Toán

Câu 1: (1,0 điểm). Khoanh đúng mỗi câu được 0,25 điểm.

a). A b). C c). D d). B

Câu 2: (1,0 điểm). Điền đúng kết quả mỗi dòng được 0,25 điểm.

a) 76 635 < 76 653 (0,25 điểm).

b) 18 536 > 17 698 (0,25 điểm).

c) 47 526 = 47 520 + 6 (0,25 điểm).

d) 92 569 < 92 500 + 70 (0,25 điểm).

Câu 3: (1,0 điểm). Khoanh đúng mỗi câu được 0,5 điểm.

a) Diện tích của hình chữ nhật là: A. 24 cm² (0,5 điểm).

b) Chu vi của hình chữ nhật là: B. 20cm (0,5 điểm).

Câu 4: (1,0 điểm). Khoanh đúng câu B. 127 dm.

Câu 5: (2,0 điểm).

– Đặt tính và tính đúng kết quả mỗi bài được 0,5 điểm; thiếu dấu gạch ngang 2 bài trừ 0,25 điểm.

– Sắp đúng phép tính, sai kết quả, mỗi bài được 0,25 điểm.

Kết quả đúng:

a) 38 707

b) 82 328

c) 7 287

d) 4 112

Câu 6: (1,0 điểm). Tính đúng mỗi bước tính được 0,5 điểm.

a) 229 + 126 x 3 = 229 + 378 (0,25 điểm).

= 607 (0,25 điểm).

b). (9 759 – 7 428) x 2 = 2 331 x 2 (0,25 điểm).

= 4 662 (0,25 điểm).

Câu 7: (1,0 điểm). Tìm x: Tính đúng mỗi câu được 0,5 điểm; mỗi bước tính đúng 0,25 điểm.

a). x x 6 = 2 412

x = 2 412 : 6 (0,25 điểm).

x = 402 (0,25 điểm).b). x : 3 = 1 824

x= 1 824 x 3 (0,25 điểm).

x = 5 472 (0,25 điểm).

Câu 8: (2,0 điểm). Bài giải:

Trong 1 giờ người đi ô tô đi được là: (0,25 điểm).

82 : 2 = 41 (km). (0,75 điểm).

Trong 5 giờ người đi ô tô đi được là: (0,25 điểm).

41 x 5 = 205 (km). (0,5 điểm).

Đáp số: 205 km. (0,25 điểm).

Lưu ý: Học sinh có câu lời văn khác đúng vẫn được 0,25 điểm.

– Ví dụ: Quãng đường người đó đi ô tô trong 1 giờ là.

Người đó đi ô tô trong 1 giờ được là.

Đề thi học kì 2 lớp 3 môn Toán – Đề 4

I. PHẦN TRẮC NGHIỆM 5 điểm

Câu 1: Số liền sau số 12075 là: (0,5đ)

A. 12074

B. 12076

C. 12077

Câu 2. Số 17934 đọc là: (0,5đ)

A. Mười bảy nghìn chín trăm ba tư

B. Mười bảy nghìn ba trăm chín mươi tư

C. Mười bảy nghìn chín ba tư

D. Mười bảy nghìn chín trăm ba mươi tư

Câu 3. Giá trị của biểu thức 1320 + 2112 : 3 là: (1 đ)

A. 2024

B. 2042

C. 2204

D. 2124

Câu 4. (1 đ)

Chu vi hình chữ nhật ABCD là:

Đề thi cuối học kì 2 lớp 3 môn Toán

A. 48 cm

B. 28 cm

C. 64 cm

D. 14 cm

Câu 5. Kết quả của phép tính 45621 + 30789 là: (1 đ)

A. 76410

B. 76400

C. 75410

D. 76310

Câu 6. Từ 6 giờ kém 5 phút đến 6 giờ 5 phút là bao nhiêu phút:

A. 5 phút

B. 8 phút

C. 10 phút

D. 15 phút

II. PHẦN TỰ LUẬN 5 điểm

Câu 7. Tìm x (1 đ)

a. 1999 + x = 2005

b. x x 3 = 12485

Câu 8. Đặt tính rồi tính: (1 đ)

a. 10712 : 4

b. 14273 x 3

Câu 9. Một hình vuông có chu vi 2dm 4cm. Hỏi hình vuông đó có diện tích bằng bao nhiêu? (2 đ)

Câu 10. Tìm một số biết rằng khi gấp số đó lên 4 lần rồi giảm 7 lần thì được 12. (1 đ)

Đáp án Đề thi cuối học kì 2 lớp 3 môn Toán

I. PHẦN TRẮC NGHIỆM

Câu 1: B

Câu 2: D

Câu 3: A

Câu 4: B

Câu 5: A

Câu 6: C

Phần II: Tự luận (5 điểm)

Câu 7. Tìm x (1 đ)

a. 1999 + x = 2005

x = 2005 – 1999

x = 6

b. x x 3 = 12485

x = 12486 : 3

x = 4162

Câu 8:

a. 10712 : 4 = 2678

b. 14273 x 3 = 42819

Câu 9:(2đ) Bài giải

Đổi: 2dm 4cm = 24cm (0,25 đ)

Cạnh của hình vuông là: (0,25 đ)

24 : 4 = 6 (cm) (0,5 đ)

Diện tích của hình vuông là: (0,25đ)

6 x 6 = 36 (cm²) (0,5 đ)

Đáp số: 24 con thỏ (0.25đ)

Câu 10: (1 đ)

Ta có: x x 4 : 7 = 12

x = 12 x 7 : 4

x = 21

Vậy số đó là: 21.

Đề thi học kì 2 lớp 3 môn Toán – Đề 5

Câu 1. (M1-1 điểm)

a. Trong các số: 42078, 42075, 42090, 42100, 42099, 42109, 43000.

Số lớn nhất là:

A. 42 099

B. 43 000

C. 42 075

D. 42 090

b. Số liền sau của 78999 là:

A.78901

B. 78991

C. 79000

D. 78100

Câu 2. (M1-1 điểm)

a. Dãy số : 9; 1999; 199; 2009; 1000; 79768; 9999; 17 có tất cả mấy số?

A. 11 số

B. 8 số

C. 9 số

D. 10 số

b. Giá trị của số 5 trong số 65478 là:

A. 5000

B. 500

C. 50 000

D. 50

Câu 3. (M2 -1 điểm)

a. Giá trị của biểu thức 2342 + 403 x 6 là:

A. 4660

B. 4960

C. 4860

D. 4760

b. Kết quả của phép trừ 85371- 9046 là:

A. 86335

B. 76325

C. 76335

D. 86325

Câu 4. (M2 – 1điểm)

a. 2 giờ = … phút Số thích hợp điền vào chỗ chấm là:

A. 120 phút

B. 110 phút

C. 60 phút

D. 240 phút

b. Thứ năm tuần này là ngày 25 tháng 3. Hỏi thứ năm tuần sau là ngày nào?

A. Ngày 1

B. Ngày 2

C. Ngày 3

D. Ngày 4

Câu 5. (M3-1 điểm) Mua 2kg gạo hết 18000 đồng. Vậy mua 5 kg gạo hết số tiền là:

A. 35 000 đồng

B. 40 000 đồng

C. 45 000 đồng

D. 50 000 đồng

Câu 6. Hình trên có bao nhiêu hình tam giác, bao nhiêu hình tứ giác: (M4 -1 điểm)

Đề thi cuối học kì 2 lớp 3 môn Toán

A. 9 hình tam giác, 2 hình tứ giác

B. 5 hình tam giác, 4 hình tứ giác

C. 5 hình tam giác, 5 hình tứ giác

D. 9 hình tam giác, 4 hình tứ giác

Câu 7: (M3-1 điểm) Một miếng bìa hình chữ nhật có chiều dài là 12 cm, chiều rộng bằng 1/3 chiều dài. Chu vi hình chữ nhật đó là:

A. 32 cm

B. 16 cm

C. 18 cm

D. 36 cm

Câu 8: (M1 -1 điểm) Đặt tính rồi tính: (M1 -1 điểm)

14754 + 23680

15840 – 8795

12936 x 3

68325 : 8

Câu 9: (M2 -1 điểm) Một ô tô đi trong 8 giờ thì được 32624 km. Hỏi ô tô đó đi trong 3 giờ được bao nhiêu ki – lô – mét?

Câu 10: (M4 -1 điểm) Tìm x

a) x x 6 = 3048 : 2

b) 56 : x = 1326 – 1318

Đáp án Đề thi cuối học kì 2 lớp 3 môn Toán

Câu 1. (M1-0, 5 điểm)

a, B. 43 000

b, C. 79000

Câu 2. (M1-0, 5 điểm)

a, B. 8 số

b, A. 5000

Câu 3. (M1-0, 5 điểm)

a, D. 4760

b, B. 76325

Câu 4. (M1-0, 5 điểm)

a, A. 120 phút

b, A. Ngày 1

Câu 5. (M2 -0, 5 điểm) C. 45 000 đồng

Câu 6. (M2-0, 5 điểm) D. 9 hình tam giác, 4 hình tứ giác

Câu 7. (M2 -0, 5 điểm) A. 32 cm

Câu 8. (M3-0, 5 điểm)

a) 14 754 + 23 680 = 38 434

b) 15 840 – 8795 = 7045

c) 12 936 x 3 = 38 808

d) 68325 : 8 = 854 (dư 5)

Câu 9. (M3-1 điểm)

Bài giải:

Quãng đường ô tô đi trong một giờ là: (0, 25 điểm)

32 624: 8 = 4078 (km) (0, 75 điểm)

Quãng đường ô tô đi trong 3 giờ là: (0, 25 điểm)

4078 x 3 = 12 234 (km) (0, 5 điểm)

Đáp số: 12 234 km (0, 25 điểm)

Đề thi học kì 2 lớp 3 môn Toán – Đề 6

Phần I. Trắc nghiệm (3 điểm) Khoanh vào chữ cái đặt trước câu trả lời đúng nhất:

Câu 1: Số liền trước của số 9999 là:

A. 10000.

B. 10001.

C. 9998.

D. 9997.

Câu 2: 23dm = … cm. Số thích hợp điền vào chỗ trống là:

A. 23 cm.

B. 220 cm.

C. 203 cm.

D. 230 cm.

Câu 3: Chọn đáp án sai

A. 5 phút = 180 giây

B. 2dm = 20cm

C. Tháng 5 có 31 ngày

D. Đường kính dài gấp đôi bán kính

Câu 4: Hình vuông có cạnh 5cm. Diện tích hình vuông là:

A. 20cm2

B. 20cm

C. 25cm2

D. 25cm

Câu 5: Kết quả của phép chia 3669 : 3 là

A. 1221

B. 1222

C. 1223

D. 1224

Câu 6: Một hình vuông có chu vi 12cm. Cạnh hình vuông là:

A. 3cm

B. 4cm

C. 5cm

D. 6cm

Phần II. Tự luận (7 điểm)

Câu 1: Đặt tính rồi tính:

a. 31742 + 16092

b. 14670 – 2451

c. 45132 x 4

d. 32670 : 5

Câu 2: Cho các số 76832, 78632, 73286, 73268, 72386. Hãy sắp xếp các số:

a. Theo thứ tự từ bé đến lớn.

b. Theo thứ tự từ lớn đến bé.

Câu 3: Có 30 học sinh được xếp thành 5 hàng đều nhau. Hỏi 126 học sinh thì xếp được bao nhiêu hàng như thế?

Câu 4: Tính giá trị biểu thức: 13056 + 2472 : 2

Đáp án

Phần I. Trắc nghiệm (3 điểm)Mỗi câu đúng được 0,5 điểm:

Câu123456Đáp ánCDACCA

……………………………………………………

Ngoài Đề cương ôn tập học kì 2 môn Toán lớp 3, mời các bạn học sinh tham khảo thêm các đề thi học kì 2 lớp 3 môn Toán, Tiếng Việt 3, …như các tài liệu môn học khác mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với Đề cương ôn tập học kì 2 môn Toán này sẽ giúp các bạn rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn.

Tin Tức

Tổng hợp Toán 10 Bài 3: Hàm số bậc hai | Banmaynuocnong

14
Tổng hợp Toán 10 Bài 3: Hàm số bậc hai | Banmaynuocnong

Ví dụ 1:

Xác định parabol (left( P right)): (y = a{x^2} + bx + c), (a ne 0) biết (left( P right)) đi qua (A(2;3)) có đỉnh (I(1;2)).

Hướng dẫn:

Vì (A in left( P right)) nên (3 = 4a + 2b + c) (1).

Mặt khác (left( P right)) có đỉnh (I(1;2)) nên ( – frac{b}{{2a}} = 1 Leftrightarrow 2a + b = 0) (2) và (I in left( P right)) suy ra (2 = a + b + c) (3)

Từ (1), (2) và (3) ta có (left{ begin{array}{l}4a + 2b + c = 3\2a + b = 0\a + b + c = 2end{array} right. Leftrightarrow left{ begin{array}{l}a = 1\b = – 2\c = 3end{array} right.)

Vậy (left( P right)) cần tìm là (y = {x^2} – 2x + 3).

Ví dụ 2:

Xác định parabol (left( P right)): (y = a{x^2} + bx + c), (a ne 0) biết Hàm số (y = a{x^2} + bx + c) có giá trị nhỏ nhất bằng (frac{3}{4}) khi (x = frac{1}{2}) và nhận giá trị bằng (1) khi(x = 1).

Hướng dẫn:

Hàm số (y = a{x^2} + bx + c) có giá trị nhỏ nhất bằng (frac{3}{4}) khi (x = frac{1}{2}) nên ta có:

( – frac{b}{{2a}} = frac{1}{2} Leftrightarrow a + b = 0) (5)(,,,frac{3}{4} = a{left( {frac{1}{2}} right)^2} + bleft( {frac{1}{2}} right) + c Leftrightarrow a + 2b + 4c = 3) (6) và (a > 0)

Hàm số (y = a{x^2} + bx + c) nhận giá trị bằng (1) khi(x = 1) nên (a + b + c = 1)(7)

Từ (5), (6) và (7) ta có (left{ begin{array}{l}a + b = 0\a + 2b + 4c = 3\a + b + c = 1end{array} right. Leftrightarrow left{ begin{array}{l}a = 1\b = – 1\c = 1end{array} right.)

Vậy (left( P right)) cần tìm là (y = {x^2} – x + 1).

Ví dụ 3:

Lập bảng biến thiên và vẽ đồ thị các hàm số sau:

a) (y = {x^2} + 3x + 2)

b) (y = – {x^2} + 2sqrt 2 x)

Hướng dẫn:

a) Ta có ( – frac{b}{{2a}} = – frac{3}{2},,, – frac{Delta }{{4a}} = – frac{1}{4})

Bảng biến thiên:

Suy ra đồ thị hàm số (y = {x^2} + 3x + 2) có đỉnh là (Ileft( { – frac{3}{2}; – frac{1}{4}} right)), đi qua các điểm (Aleft( { – 2;0} right),,,Bleft( { – 1;0} right),,,Cleft( {0;2} right),,,Dleft( { – 3;2} right))

Nhận đường thẳng (x = – frac{3}{2}) làm trục đối xứng và hướng bề lõm lên trên.

b) Ta có ( – frac{b}{{2a}} = sqrt 2 ,,, – frac{Delta }{{4a}} = 2)

Bảng biến thiên:

Suy ra đồ thị hàm số (y = – {x^2} + 2sqrt 2 x) có đỉnh là (Ileft( {sqrt 2 ;2} right)), đi qua các điểm (Oleft( {0;0} right),,,Bleft( {2sqrt 2 ;0} right))

Nhận đường thẳng (x = sqrt 2 ) làm trục đối xứng và hướng bề lõm xuống dưới.